Trang chính summary liên kết cá nhân Albums Tự giới thiệu Admin

Thơ Thủy Nguyên

Thơ Trackbacks (0) Thêm góp ý   
 



THUỶ NGUYÊN

Tên thật: Nguyễn Thị Thuỷ

Quê quán: Phường Quảng Phú, Tp Quảng Ngãi

Hiện ở: Phường Quảng Phú, Tp Quảng Ngãi

Công tác: Trường THPT Thu Xà

Thạc sĩ văn học.


Khát khao

           

Anh ở đâu?

Anh đang ở đâu?

Trong mắt mỏi, nhớ nụ cười anh ngày đó

Vòm ngực anh, nơi trái tim bỏ ngỏ

Đón em vào.

                    Rong chơi.

                                     Quên gian lao.

Trong tim anh, em nghe lòng xôn xao

Mắt biêng biếc.

                        Má hồng đào.

                                              Duyên con gái.

Nụ đã chín xin anh chùn tay hái

Để âm thầm còn mãi khát khao đau.

Anh ở đâu?

Anh đang ở đâu?

Xuân miên man, chân trời tím nguyên màu

Da diết tình anh

Em ngỡ rằng mình còn bé

Em ngây thơ hết một thời son trẻ

Để bây giờ còn thầm gọi: "Anh ở đâu"?


HỨA

Khi anh không còn mộng ước

Em chợt đến như mùa xuân phía trước     

Góp nhặt lời cả mây núi trăng hoa

Hạnh phúc ngọt ngào như một bản tình ca

Trong giấc mơ say

Anh hứa tặng em nguyên trái tim mình...

... Rồi bình minh

Biển yên, sóng không còn náo nức

Tình anh thôi rạo rực

Lời chia xa chưa thoát khỏi vành môi

Em trở về trong nguyên vẹn tinh khôi

Xin cảm ơn một lời lừa dối

Không nồng nàn nhưng xoa dịu lòng đau

... Những đêm thâu

Em hằng nhớ một lần anh từng hứa

Thật hay ảo em chẳng cần biết nữa

Chỉ âm thầm sống với trái tim anh

Để thấy đời một màu xanh bất tận

Không có sóng và không hề có gió

Không có lời yêu thương để ngỏ

Chỉ trần gian một cõi vô thường.


Giông tố

 "Không gian như có dây tơ

  Bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu"

Khi anh không nhìn em

Trời giăng đầy mây tím

Gió xôn xao tà biếc

Nhoà hoàng hôn sân trường

Sao không là ánh dương

Ấm nồng tim ai đó?

Sao không là ngõ nhỏ

Cho hồn ai đi hoang

Ừ! hồn cứ lang thang

Tình không bờ không bến

Mắt dù không đích đến

Vẫn nồng nàn đắm say

Hạnh phúc và đắng cay

Hai bờ đau trần thế

Có thể hay không thể

Ngăn cách bởi đường tơ

Xin làm người ngu ngơ

Cho con tim đôi mắt

Nguyện một đời dại khờ

Nhớ hoài nhớ trong mơ

Trong mơ anh làm thơ

Để tình còn trăn trở

Bình minh anh gõ nhịp

Đường tơ ơi đường tơ...


MÀU HẠNH PHÚC

Sóng bạc đầu cứ xô bờ trắng xoá

Sỏi đá chơ vơ vẫn níu bước người qua

Biển muôn đời xanh một màu kì lạ

Hơn nửa đời người anh chợt nhận ra

Là màu xanh anh không thể pha

Màu của niềm tin hay khát vọng?

Là gam màu anh không thể tả

Màu mắt ai, anh bỗng hoá thiên thần.


VẾT XƯỚC

Biển cũng có nhiều vết xước

Sóng bạc đầu mảnh mai

Cũng tạc nên Chùa Hang, Chùa Đục

Và Hang Cau thúc giục bước chân ai

Vệt nắng hồng ban mai

Lung linh như mắt em thời bỡ ngỡ

Nắng giòn tan như pha lê vỡ

Tiếng em cười một thuở mình yêu nhau

Nhưng chiều nay, chiều nay

Có một vết xước rất đau

Trượt xuống đời nhau

Không là sóng hay nắng

Chỉ một lời cay đắng

Xước trái tim, đốt cháy hanh hao.

                             

Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam

Thơ Trackbacks (0) góp ý (1)   

40 hội viên được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam

Trong các ngày từ ngày 20 -23/1/2010 tại Hà Nội, BCH Hội Nhà văn Việt Nam đã tiến hành họp xem xét trao giải thưởng văn học hàng năm và kết nạp Hội viên mới. Theo tin mới nhận được trong cuộc bỏ phiếu vừa kết thúc sáng 23/01/2010, 40 Hội viên mới vừa được thông qua (Trang nhavan.vn).
 
BBT Trang "Thiên Bút thi hữu" xin chúc mừng nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng - Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi được kết nạp trong đợt này.



Dưói đây là danh sách 40 hội viên mới:


Từ Phạm Hồng Hiên, sinh năm 1952, Bến Tre                         Nguyễn Hiệp, 1961, Bình Thuận
Nguyễn Tiến Hoá, 1951, Hà Nội                                           Nguyễn Cẩm Hương, 1957, Thanh Hoá
Nguyễn Phương Liên, 1972, Hà Nội                                         An Bình Minh, 1948, TP Hồ Chí Minh
Nguyễn Tam Mỹ, 1962, Quảng Nam                                         Lê Phan Nghị, 1944, Phú Thọ
Hàn Vĩnh Nguyên, 1948, Bến Tre                                              Đỗ Doãn Quát, 1948, Hà Nội
Phạm Thái Quỳnh, 1949, Nam Định                                          Lê Thuần Thảo, 1944, Vĩnh Phúc
Đỗ Tiến Thuỵ, 1970, Quân đội                                                  Phạm Vân Anh, 1980, Quân đội
Trần Chính, 1942, Thái Bình                                                      Phan Đức Chính, 1944, Thái Bình
Trương Thị Kim Dung, 1956, Hà Nội                                       Phương Đài, 1932, TP Hồ Chí Minh
Hải Đường, 1955, Hà Nội                                                          Quang Hoài, 1942, Hà Nội
Nguyễn Huy Hoàng, 1953, Liên bang Nga                                Kiều Anh Hương, 1953, Hà Nội
Trần Ngọc Hưởng, 1951, Long An                                        Nguyễn Ngọc Hưng, 1960, Quảng Ngãi
Bùi Thị Xuân Mai, 1948, Hà Nội                                               Trương Minh Phố, 1949, Ninh Bình
Đoàn Mạnh Phương, 1964, Hà Nội                                            Việt Phương, 1928, Hà Nội
Nguyễn Đăng Sâm, 1942, Quảng Ninh                                      Trần Tâm, 1951, Quảng Ninh
Trịnh Bá Đĩnh, 1955, Hà Nội                                                Trần Huyền Sâm, 1973, Thừa Thiên Huế
Nguyễn Thanh Tú, 1963, Quân đội                                            Lê Đăng Hoan, 1944, Hà Nội
Nguyễn Chí Thuật, 1952, Hà Nội                                               Bùi Đức Khiêm, 1951, Hà Nội
Lê Huy Hoà, 1949, Hà Nội                                                         Hoàng Trung Kiên, 1954, Vĩnh Yên
Phan Đình Minh, 1959, Hà Nội                                                  Tô Nhuần, 1953, Hà Nội

Thơ Bùi Huyền Tương

Thơ Trackbacks (0) góp ý (2)   
 



BÙI HUYỀN TƯƠNG


Tên thật: Bùi Tường

Quê quán: Tịnh Thọ, Sơn Tịnh

Hiện ở: Tịnh Thọ, Sơn Tịnh

Công tác: Trường THCS Tịnh Hoà

Hội viên Hội VH-NT Quảng Ngãi.


CHỊ TÔI

Chị ngồi trải nắng ra hong

nắng rơi trên tóc thả rong bóng chiều

thu gầy buông sợi nắng yêu

ngời lên sắc biếc cánh diều xa xăm.


Vườn xưa còn vọng trăng rằm

hương cau mấy độ gọi thầm bước chân

ra trường tiếng guốc còn ngân

ước mơ từ tạ để dành ước mơ...


Dáng xưa phảng phất... bây giờ

khác chăng thiên chức nghiêng bờ vai thon

đem tình trang trải cháu con

nghiêng vai trăm phận chon von nẻo đời.


Giấu buồn năm tháng đầy vơi

nhọc nhằn thầm lặng trắng trời mưa bay

chênh chao bãi vắng sông dài

thân cò vẫn phải miệt mài bến sông.


Mùa đông mưa gió ngập đồng

lấy gì che nổi tấm lòng chị tôi!

 

NGẮM KHÚC CA DAO

1. Lời cha kể

dắt con đi học theo triền ký ức

đôi mắt cha rưng rưng

nghẹn dừng

đây khúc ca dao

này cánh cò

này bờ ao, bến vắng

này ước mơ xa

cho con

lả la cùng nắng

đông đưa hoài trong tiếng mẹ ru.


2. Góc vườn trưa ru rúc tiếng chim gù

thu đang xanh

mà lời ru chợt khững

bóng mẹ đổ dài

vĩnh viễn mẹ di

con mới lên năm

ngày ấy chẳng biết gì

chỉ nhớ qua loa lời mẹ trối

hắt hiu buồn

đoạn cuối khúc ca dao...


3. Lời cha kể

ngậm ngùi

chiều

con ngắm

con lặng thầm

gói khúc ca dao

đặt vào miền sâu thẩm - trái tim

để chiều chiều

ngồi ngắm

mẹ ơi!...

              

Thơ Lý Văn Hiền

Thơ Trackbacks (0) góp ý (2)   
 
 


LÝ VĂN HIỀN

Bút danh: Hiền Văn

Quê quán: Ba Gia, Sơn Tịnh

Hiện ở: phường Nghĩa Lộ, Tp Quảng Ngãi

Công tác: Tạp chí Cẩm Thành

Hội viên Hội VH-NT Quảng Ngãi

Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam.



BÃO CHANCHU

Bạn tôi đi biển không về

Hồn xiêu bọt nước phách kề phong ba

Đại dương khâm liệm thịt da

Xương tàn đắp điếm cát hòa bùn nâu.


Vạn chài oằn nặng nỗi đau

Cửa sông gió hú dội sâu tên người

Ngọn tre cong vẫy trùng khơi

Cụm tra bạc mặt lá phơi ngóng chờ.                                               


Mẹ già đã cạn tiếng hờ

Khóc chồng ngày trẻ, bây giờ khóc con

Lom khom chân lún lối mòn

Quảy dâu một nửa cháu còn nửa lưng.


Nhà nghiêng, mái dột, liếp thưng

Vành khăn tang chít lên từng đầu xanh

Trẻ thơ khát sữa thất thanh

Vợ khan giọng khóc quấn quanh chỗ ngồi.


Mốt mai dạt những mảnh đời

Lá đa tháng bảy phận người hoa đăng

Trầm luân mộ gió, thẻ nhang

Mà canh cánh chở nợ trần gian thêm.


Ngoài khơi cơn bão đã yên

Nước khâu lưỡi sóng đã liền da non

Quê tôi bão vẫn điên cuồng

Giật tung cả giấc trẻ con mớ thầm.



KHUYẾT MỘT CHỖ NGỒI
                
Nhớ Lê Ngọc Sơn


Bạn đi

Khuyết một chỗ ngồi

Mà chiều nay nửa góc trời trống huơ

Tay nâng ly...

Khói sóng mờ

Cỏ triền đê rối

Lạnh bờ sông quê!


Đành rằng cháo lú u mê

Ai rồi cũng đến phiên kề miệng qua

Bạn chưa chân mỏi đường xa

Đã nghiêng tuổi xuống sân ga cuối cùng


Cơ duyên bằng hữu trùng phùng

Quán quen ấm tiếng bạn từng lập ngôn

Những trưa phơi nắng vui buồn

Những khuya khoắt nhuộm lại cơn giang hồ

Nhất sinh, đoạn tống... câu thơ

Nửa chừng bạn bỏ lại trơ ghế bàn.


Nhói lòng hồi trống di quan

Nến chong rớt lệ khói nhang lụy vòng

Thôi thì sắc sắc không không

Rưới mồ bạn chén rượu nồng tiễn nhau!

                             Tháng 7/2004

                                                         

Chúc các bạn năm 2010 Bình an - Hạnh phúc và Thành đạt!

Thơ Trackbacks (0) góp ý (1)   


                  

  

Thơ Lương Lu

Thơ Trackbacks (0) Thêm góp ý   


                                                                                (Họa sĩ Lương Lu) 


HÒN VỌNG  PHU

Những người đàn bà

Hóa đá

Những hòn đá

Thành đàn bà

Nghìn năm

Hết mẹ bồng con

Lại đến con bồng mẹ

Lá ngàn bay vòng đời quay

Chinh chiến người đi biền biệt.

Tổ quốc tôi

Được trời ban cho vô vàn đá sỏi

Vá víu

Những mảng đồi loang lổ

Con trâu là cơ nghiệp

Lưỡi cuốc - bạn hiền

Cuối bãi đầu ghềnh

Đèn khuya hiu hắt.

Tổ quốc tôi

Có đủ những hòn Bà, tháp Bà, núi Bà

Và những pho tượng đàn bà bằng xi măng cốt sắt

Nghìn năm trông vời phương Bắc

Trăm năm dõi khắp non Nam

Những cái cùng con

Rạn lưng hậu phương tiền tuyến.

Còn ai nhớ ai quên

Cái thời

Những người đàn bà

Hóa đá!



VÀM CỎ ĐÔNG

Vàm Cỏ Đông

Dòng sông

Trải dài biên giới

Chín nhớ mười thương

Năm chờ tháng đợi

Hoa bằng lăng trắng phau con nước

Thuyền ai đưa đẩy giọng hò:

"Chín năm xa ngái đợi chờ

Lòng em vẫn một ngọn cờ vàng sao...".

Lao xao, lao xao

Dưới trời xao rộng

Ôi dòng sông

Vàm Cỏ Đông

Những ngày cay đắng

Con gái con trai

Từ đồng bằng xa vắng

Về đây

Vào "Chủ lực Miền".

Khẩu súng "ngựa trời"

Và một lời nguyền

Tháng chín, mồng hai, năm sáu mươi lăm

Đã mười năm

Từ dòng sông ấy

Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Bàng sóng dậy

Đến cuộc Tổng tiến công đất lở trời long

Hoa lục bình

Màu tím thủy chung

Nở mãi lòng người chiến sĩ

Vàm Cỏ Đông

Dòng sông đã thành câu hát

Chín nhớ mười thương

Năm đợi tháng chờ...

Giới thiệu thơ Trúc Linh

Thơ Trackbacks (0) góp ý (1)   
 

TRÚC LINH



Tên thật: Nguyễn Thị Trúc Linh

Quê: Quảng Ngãi

Hiện đang công tác tại TP.HCM.


Bão

Trưa nay đài báo bão

đất miền Trung nước lũ tràn về

Trắng đồng

trắng sông

trắng xóa...

Gió rít từng cơn

Mưa như trút nước

Cây cổ thụ oằn mình trong giông tố

Người nông dân

ngẩn mặt kêu trời...



Sông Trà mùa khô

Tự bao giờ

Dòng sông Trà

mùa khô khát cháy

Giữa lòng sông cát trắng vơi đầy

Sông oằn mình

phơi lưng bỏng rát

bụi mù

cát bay

Gió không hiểu tình sông

mênh mông gió hát

Cát có yêu sông

sao bỗng hóa bụi mờ...


Sông Trà mùa mưa

Tháng mười

sông quê tôi mênh mông sóng nước

cuồn cuộn... trào dâng

Gió ôm sóng chồm qua bờ đá

Nước ôm thuyền vật vã quần xoay

Con nước dâng đầy

Lòng sông trắng xóa

Người phương xa lo lắng quê nhà...

Nhà thơ Lê Ngọc Trác

Thơ Trackbacks (0) góp ý (1)   
 


LÊ NGỌC TRÁC

Tên thật: Lê Ngọc Khôi

Quê quán: Tư Nghĩa, Quảng Ngãi

Hiện ở: Thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.



Uống rượu

                     (Ngày tiễn bạn đi xa)

Rót đi, rót nữa cho đầy

Cạn thêm ly nữa, tiễn mày đi xa

Sá gì cách biệt quan hà

Trường đời vạn nẻo đường xa gập ghềnh.

Gió về cho bóng triều lên

Người đi có nhớ sông Dinh sông Trà

Nhớ mùa bấc biển mưa sa

Bao năm tóc rối vẫn qua truông đời.

Cuộc đời như một cuộc chơi

Hãy đi cho biết đất trời mênh mông

Không như con sáo sổ lồng

Tiễn mày đi ...bỗng nghe lòng bâng khuâng.

Trăng nghiêng bên cốc rượu nồng

Cạn thêm ly nữa ấm lòng người đi.


Về

Tôi về quê cũ trong đêm

Trăng khuya chếch bóng bên thềm quán xưa

Qua cầu nhớ tiếng đò đưa

Mênh mông sóng nước lưa thưa sợi buồn.

Nhạt nhoà mắt lệ mờ tuông

Bao năm mang nặng nỗi buồn xa quê

Chỉ mong một lần trở về

Nhìn mùa hoa cải ven đê rực vàng

Chờ người qua chuyến đò ngang

Hương chanh nhẹ thoảng hạ vàng tóc mây

Con sông quê vẫn dáng gầy

Tôi tìm về lại những ngày chưa xa...

Mái đình xanh rợp bóng đa

Trường làng rộn tiếng ê a đánh vần

Đường quê chân bước tần ngần

Chuyện đời như bóng phù vân lưng đồi.

Ngày về tôi lại gặp tôi

Vườn xưa đã khép nhân đôi nỗi sầu

Thương ai mây trắng bạc đầu

Trở về nghe tiếng chim câu gọi đàn.



Nhớ Hải Châu

Lâu lắm không về thăm Hải Châu

Sông xưa áo lụa có phai màu?

Ngàn trùng cố xứ bao dâu bể

Ta vẫn nhớ về một Hải Châu.

Thương cha vất vả ở đồng sâu

Nhớ mẹ sớm trưa chạy chợ Cầu

Đàn em thơ dại giờ đã lớn?

Ta mãi chỉ là một gã ngây.

Trông về cố xứ mờ sương mây

Thương con đò đợi bến sông Tây

Ai hò Ba Lý trong chiều tím

Cho nẫu lòng người xa Hải Châu.

Xin hẹn mùa sang cúc trổ bông

Về thăm quê cũ, thăm dòng sông

Câu hò thắm đậm tình non nước

Đất khổ yêu ơi sẽ rực hồng.


Gặp lại Quảng Ngãi

ở Cực Nam Trung Bộ

Ta gặp lại Quảng Ngãi

Một chiều Tân Nghĩa

Áo chàm phai

Ánh mắt vẫm reo cười

Bao năm rồi

Giờ mới nghe giọng đồng hương

Giọng nói ngọt lịm mía đường

Thơm hương quế quê ta

Ngày xưa

Trên cánh đồng gió Lào cát bỏng

Mẹ còng lưng gieo lúa trì trì

Nuôi lớn đàn con

Đi giữ nuớc

Hôm nay

Em

Một nắng hai sương

Trên những ngọn đồi sỏi đá

Miền cực Nam Trung bộ

Cuốc đất trồng khoai

Đưa con vào đại học

Quê ta nghèo

Cuộc sống gian nan

Đời vẫn sáng lên

Những tấm lòng trung hậu.

Chiều xõa tóc

Bên sông Dinh lộng gió

Em mơ về sông Trà

Với Long đầu hí thủy

Trông vời núi Nhọn vờn mây

Em nhớ Thiên bút phê vân

Tháng giêng thơm

Như nụ hôn đầu

Đào đã đơm hoa trên đỉnh gió

Hẹn những mùa vui

Em hò ba lý giữa thung xanh

Hò là hò khoan

Ba lý tình tang

Ngày xưa

Rừng núi hoang tàn

Hôm nay

Xây dựng thành làng quê ta.

Ngọt ngào làm sao

Ơi câu hò xứ sở

Đưa ta về

Với nguồn cội yêu thương.



Tâm sự với Má

1.  Má ơi !

Tóc con giờ đã phai màu

Nếu còn sống

Má sẽ cho tiền con nhuộm tóc

(Bởi con là bé đầu lòng của Má

Má thương con nhất nhà)

2. Tóc bạc trắng rồi

con mới hiểu

lời mắng yêu của Má năm nào

(Mày là thằng thơ thẫn, lông bông)

Ngày xưa

Ba sống ở làng Đông

Má ở phố Tây

Cách nhau dòng sông nhỏ

Cô gái thành phố về nhà chồng

Không quen cuốc đất trồng khoai

Thế mà

Suốt đời Má phải gánh nặng đường xa

Sáng bán cháo vịt

Chiều bán chè đỗ đen

Nuôi một  đàn con dại

(khi Ba con ở tù)

Bảy anh em chúng con lớn lên thành người

Từ máu và mồ hôi của Má

3. Má đi xa đã mười ba năm

Tết đến không có Má

Nhà mình thường kém vui

Năm nay Tết lại về

Con lại nhớ ngày xưa...

Nhà mình nghèo

Không tiền mua áo mới

Má cắt bộ đồ đẹp nhất thời con gái

Sửa thành áo mới cho anh em chúng con

Nhà không tiền mua thịt

Má thường luộc rau xanh

Chúng con giành nhau ăn

Khen ngon

Như chưa từng được ăn...

4. Đã bao lần

Con viết thơ tặng người yêu

Làm thơ tặng bạn rượu

Nhưng

Chưa một lần

Con viết nổi một câu thơ tặng Má

Má có buồn con không

(thật con là thằng lông bông)

5. Chiều nghĩa trang cuối năm

Gió thổi lạnh mấy hàng cây

Hoa mắc cở úa gầy chân mộ chí

Má nằm đây...

Mà ngàn thu cách biệt

Thương nhớ Má vô cùng

Con chỉ biết khóc ... Má ơi !
 

Cảm thức LÊ NGỌC TRÁC với MỘT CHÚT TÌNH THƠ

(Đọc Một chút tình thơ, Hội Văn học Nghệ thuật Bình Thuận, tháng 5/2008).
                                                        TRẦN HOÀNG VY


 

        Lê Ngọc Trác tên thật là Lê Ngọc Khôi, anh sinh ra tại Tư Nghĩa, Quảng Ngãi, nhưng sinh sống và làm việc tại Thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận. Từng là phóng viên của báo Thuận Hải (Bình Thuận trước đây). Chẳng biết từ khi nào, cái nghiệp văn chương lại đeo đuổi và ám ảnh anh đến tận bây giờ.

           Bằng chứng là từ năm 1996, anh đã xuất bản tập thơ "Dòng sông em và tôi", tính đến hôm nay, anh đã có "gia tài" là 4 tác phẩm (gồm hai tác phẩm thơ, và hai tác phẩm giới thiệu tác giả tác phẩm).

         Một chút tình thơ là tác phẩm thứ 4 của anh. Sách dày 108 trang, khổ 14 x 20cm. In trên giấy trắng, trình bày trang nhã, do Hội Văn học Nghệ thuật xuất bản.

         Thú thật, quen biết  Lê Ngọc Trác từ hơn 30 năm trước, đây là lần đầu tiên, tôi được đọc tác phẩm của anh, không phải là một tập thơ, mà là một tập sách "giới thiệu tác giả, tác phẩm". Sở dĩ tôi nói đây là lần đầu tiên, vì khi cùng sống chung ở xã Tân An ( Hàm Tân), nơi đỉnh dốc, bốn mùa lồng lộng gió, tôi dạy học, làm văn nghệ, còn anh là nhà báo. Khi tôi chuyển công tác, bằng bặt tin nhau dễ đã 25 năm, đến bây giờ mới được "gặp lại" và..."cố tri" đã gửi tặng cho nhau những tác phẩm của mình, để khi đọc nó, những kỷ niệm xưa đã biến thành sự tương giao, đồng cảm, cho dù chưa đến mức "tri âm, tri kỷ", nhưng cũng đã "đồng thanh tương ứng...".

          Tôi phải "dài dòng" một chút, để cho những hoài niệm xưa bớt dậy sóng, lắng lại lòng mình, để mà trân trọng, lần dở những trang sách bạn viết. Một chút khiêm tốn, một chút nhún nhường, Lê Ngọc Trác đã tâm sự : " Với tập sách bé nhỏ này, tôi không bao giờ có ý định làm nhà phê bình văn học. Thật tình, tôi chỉ viết về những nhà thơ, những người bạn thân thiết, gần gũi với mình trong cuộc sống...Tôi cố gắng thể hiện những rung động, cảm nhận của mình khi được đọc tác phẩm của những nhà thơ mà tôi yêu quí..."( Lời ngỏ, trang 5).

          Và những nhà thơ mà anh "yêu quí" đó là 10 người, trừ một nhà thơ sinh sống ở Quảng Ngãi quê anh ( Vũ Hồ), còn lại đều sinh sống tại Bình Thuận ( có 8 người ở La Gi-Hàm Tân, 1 ở Phan Thiết) : Nguiễn Ngu Í, Phan Thanh Hải, Xuân Ly Băng, Phan Chính, Đỗ Quang Vinh, Trần Yên Thảo, Đoàn Thuận, Nguyễn Huỳnh Sa và Ngô Văn Tuấn.

           Tôi biết trong 10 khuôn mặt thơ mà Lê Ngọc Trác giới thiệu, có người đã từng có tên tuổi trước giải phóng ( Nguiễn Ngu Í,Vũ Hồ, Trần Yên Thảo, Xuân Ly Băng), có người mới sau này, trong đó có Đỗ Quang Vinh là Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam. Song dường như sự tỏa sáng chỉ ở trong khu vực, ít lan tỏa ra khắp cả nước, vì bởi họ là những nhà thơ...tỉnh lẽ, ít có điều kiện tiếp xúc và...đánh bóng tên tuổi, mặc cho lớp bụi của thời gian phủ mờ, khỏa lấp, cho nên rất cần những người như Lê Ngọc Trác, làm cái công việc ...gạn đục, khơi trong, bằng chính trái tim và sự cảm nhận của mình để giới thiệu cho đông đảo bạn đọc biết những tác giả, tác phẩm hay, đặc sắc. Thâm tình hơn, đó lại chính là những con người của quê hương mình, của nơi mình đang sống.

            Với Nguiễn Ngu Í, có thể coi đây như một "lão làng" của đất La Gi-Hàm Tân, chỉ bằng nhận xét của Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Khê : "Anh Ngư viết văn Pháp rất hay, nhưng anh yêu tiếng Việt, anh lại muốn cho người Việt ai cũng đọc được sách báo nên tham gia rất tích cực phong trào xóa nạn mù chữ. Nguiễn Ngu Í còn sáng tạo ra cách viết chữ Quốc ngữ sao cho hợp lý hơn...", và Học giả, nhà văn Nguyễn Hiến Lê thì viết: "Anh có nhiều lý tưởng, nuôi nhiều mộng cao đẹp mà gặp toàn những điều bất như ý, cứ phải cố nén xuống và sức nén càng mạnh thì càng bùng lên dữ dội..." (trang 8). Cũng đã khái quát hết cái thần của nhà thơ Nguiễn Ngu Í, như hai câu thơ mà ông viết : "Bao nhiêu chí trẻ rồi tro bụi/ Một thoáng tình xa cũng ngậm ngùi !".

           Tương tự, giới thiệu nhà thơ Phan Thanh Hải, Lê Ngọc Trác cũng đã đưa được cái tình, cái ý và ước nguyện của nhà thơ " Tự điếu" mình bằng 2 câu thơ : "Văn Chương chưa cạn bao nguồn cảm/ Đạo đức mãi ghi một chữ tình" (Trang 16).

          Với lối viết tìm tòi, sáng tạo như vậy Một chút tình thơ, đã vẽ được chân dung các nhà thơ tác giả yêu quí, bằng chính sự cảm thức trong trẻo và ngòi viết sắc sảo mang tính chất báo chí của mình, đây còn là sự thể hiện qua cảm nhận của trái tim mà anh là một độc giả, một bằng hữu chí tình, chí cốt.

         Việc giới thiệu tác giả tác phẩm, trước Lê Ngọc Trác đã có nhiều người viết và tập hợp thành tác phẩm. Có nhà thơ, qua sự giới thiệu của bậc thức giả tri âm, đã trở nên nổi tiếng, nhiều người biết đến, cũng có người lặng lẽ chìm khuất cùng với thời gian. Và giới thiệu tác giả, tác phẩm, mỗi người giới thiệu lại tìm cho mình một hướng đi riêng và một phong cách viết riêng. Có người nghiên cứu, có người phê bình, có người chỉ bình...Lê Ngọc Trác thì ghi cảm nhận, dành quyền suy ngẫm cho người đọc, đó là sự cảm thức chừng mực, vừa phải, tránh được lối mòn "tung hứng" mà nhiều người hay mắc phải. Có điều, theo tôi : Giá mà Lê Ngọc Trác " tiết chế" một chút trong việc đưa ra hơi nhiều thơ của người mình giới thiệu ( Mỗi tác giả chỉ nên có từ 2 đến 3 bài thơ thật ưng ý là đẹp nhất). Qua mỗi tác giả, ngoài việc nắm bắt "cái thần" của mỗi người, cũng nên nêu lên sự cảm nhận khái quát và chung nhất của người viết đối với tác giả được giới thiệu, qua đó hướng dẫn bạn đọc cảm nhận về cái hay, cái đẹp mà mình muốn giới thiệu, đó là sự định hướng cần thiết của người làm công việc giới thiệu.

         Tiết giảm bớt nhiều bài thơ chưa phải là tiêu biểu, Lê Ngọc Trác còn có nhiều điều kiện để giới thiệu thêm các nhà thơ đã thành danh của Phan Thiết như Nguyễn Bắc Sơn, Lê Nguyên Ngữ, Nguyễn Như Mây...đã từ lâu được bạn đọc cả nước yêu mến. 

                                                   Bên bờ Vàm Cỏ, tháng 10/2008 

                                                                           


Lễ kỷ niệm 20 năm (02/10/1989 - 02/10/2009) Ngày thành lập Hội VHNT Quảng Ngãi

Thơ Trackbacks (0) Thêm góp ý   
 

   Sáng ngày 4/12, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh đã tổ chức lễ kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Hội (1989- 2009). 

   Đến dự lễ có các đồng chí Nguyễn Hoàng Sơn-Phó Chủ tịch UBND tỉnh; Đoàn Tấn Nghĩa-Phó Ban tuyên giáo Tỉnh ủy; đại diện các sở, ban, ngành của tỉnh; các đồng chí nguyên là lãnh đạo Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh qua các thời kỳ và hơn 170 hội viên đang công tác tại các cơ quan, đơn vị trong và ngoài tỉnh.
 

a
Các đại biểu và hội viên dự lễ kỷ niệm

Được thành lập ngày 2/10/1989, từ 13 hội viên ban đầu và chưa có bất cứ một chi hội chuyên ngành nào, đến nay, Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Ngãi đã có 173 hội viên sinh hoạt trong 8 chi hội chuyên ngành: văn học, mỹ thuật, âm nhạc, nhiếp ảnh, văn nghệ dân gian, văn học nghệ thuật dân tộc thiểu số, sân khấu và kiến trúc.
 
Trong 20 năm qua, các văn nghệ sĩ trong tỉnh đã sáng tác, quảng bá giới thiệu đến công chúng gần 1.200 tác phẩm văn học nghệ thuật, trong đó có 143 đầu sách văn học, âm nhạc, album nhạc, công trình nghiên cứu văn hoá truyền thống, lý luận, phê bình văn học nghệ thuật; 440 tác phẩm mỹ thuật; trên 600 tác phẩm nhiếp ảnh chất lượng cao. Bên cạnh đó các văn nghệ sĩ còn dàn dựng, biểu diễn hàng ngàn lượt tiết mục ca, múa, nhạc, kịch phục vụ nhân dân ở các địa phương trên địa bàn tỉnh.
 
Trong 4 năm từ 2006-2009, Hội đã hỗ trợ cho các hội viên quảng bá, giới thiệu gần 500 tác phẩm văn xuôi, thơ, lý luận phê bình, tuyển tập nhạc, album nhạc và trên 300 tác phẩm ảnh nghệ thuật và 85 tác phẩm mỹ thuật được gửi đi tham gia các cuộc triển lãm khu vực và toàn quốc. Tính đến nay, đã có nhiều hội viên Hội văn học nghệ thuật Quảng Ngãi đoạt các giải thưởng cao về thơ văn, sân khấu, điện ảnh, nhiếp ảnh... cấp khu vực và toàn quốc. Đặc biệt, tháng 9/2009, Hội đã tổ chức giao lưu với Liên đoàn nghệ thuật dân tộc Cheju (Hàn Quốc) và để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng nhân dân hai địa phương Quảng Ngãi và Cheju.

Cùng với hoạt động sáng tạo, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh còn tham gia phối hợp với các tổ chức xã hội, góp phần quyên góp hàng tỷ đồng ủng hộ nạn nhân chất độc da cam, trẻ em tàn tật, các gia đình bị ảnh hưởng thiên tai, quỹ học sinh vượt khó Sơn Mỹ.  
a
Diễn tấu Cồng-Chiêng dân tộc H're ở xã Ba Nam, huyện Ba Tơ

Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Nguyễn Hoàng Sơn-Phó Chủ tịch UBND tỉnh biểu dương những kết quả đạt được của Hội Văn học Nghệ thuật trong suốt 20 năm qua. Đồng chí cho rằng, hiện số lượng hội viên của tỉnh không nhiều so với các tỉnh trong khu vực, song những đóng góp của hội viên hội văn học nghệ thuật trong sáng tạo nghệ thuật cũng như những hoạt động xã hội là đáng tự hào, điều này đã góp phần cải thiện đời sống tinh thần, xây dựng đời sống văn hóa trên quê hương núi Ấn sông Trà.

Đồng chí mong rằng, trong thời gian đến, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh tiếp tục phát huy những thế mạnh của mình, phát huy tinh thần sáng tạo để có nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị cao, góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp hơn.

Nhân dịp này, UBND tỉnh đã tặng bằng khen cho 11 hội viên đã có nhiều đóng góp cho phong trào văn học nghệ thuật tỉnh nhà 20 năm qua.   
                                                             
Tin, ảnh: M.Toàn 
                                                     (Nguồn Báo Quảng Ngãi online)   

Một số hình ảnh tại buổi lễ:
                         


Văn nghệ chào mừng:



Diễn văn khai mạc:



Phát biểu của ông Nguyễn Hoàng Sơn - Phó chủ tịch UBND tỉnh:



Quang cảnh buổi lễ:



Trao giấy khen cho hội viên có thành tích:



Trưng bày hình ảnh hoạt động:



Vui mừng ngày gặp mặt:



(Nhà thơ Thanh Thảo -Nguyên CT Hội Khóa II và họa sĩ Lương Lu)

Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng và nhà thơ Đinh Tấn Phước được trao giải thưởng Thơ năm 2009

Thơ Trackbacks (0) góp ý (2)   
 




   Ngày 26/11/2009, Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam thông báo trao giải thưởng Văn học nghệ thuật của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam năm 2009:
 - Giải B tác phẩm Thơ: "Những khúc ca trên cỏ" của nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng (TT Chợ Chùa, Nghĩa Hành);
 - Giải C tác phẩm thơ: "Chạm bóng" của nhà thơ Đinh Tấn Phước (Phường Nghĩa Lộ, TP Quảng Ngãi).
   Lễ trao giải được tổ chức vào sáng 08/12/2009 tại Hà Nội.
   BBT Trang "Thiên Bút Thi Hữu" xin chúc mừng, chia vui với nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng và nhà thơ Đinh Tấn Phước.
   Đây là tin vui nhân sự kiện Lễ kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Hội VHNT tỉnh Quảng Ngãi (02/10/1989 - 02/10/2009) được tổ chức vào sáng 04/12/2009 tại Khách sạn Hùng Vương, TP Quảng Ngãi.



Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng:
(Người nằm bên trái)



Tác phẩm thơ:  Những khúc ca trên cỏ



Nhà thơ Đinh Tấn Phước
:



Tác phẩm Thơ:
  Chạm Bóng


Thơ Nhật Linh

Thơ Trackbacks (0) Thêm góp ý   
 




Tên thật: Phạm Kỳ Ngoạn

Năm sinh: 1945

Quê: Hành Nhân, Nghĩa Hành, Quảng Ngãi

Hiện ở: Nghĩa Phương, Tư Nghĩa, Quảng Ngãi
ĐT: 0914267692.



Thu xa


Thu về sương giăng đầu nhớ

Cuối vườn nhặt lá vàng bay

Chưa vui sao mà vỡ lỡ

Hoàng hôn nhạt bóng hao gầy


Gặp nhau thẹn thùng cuối phố

Mênh mông tìm lối xưa quen

Khi về trắng tay nỗi nhớ

Hắt hiu thị trấn không đèn


Muộn màng sương thu rơi nhẹ

Xuống thềm vương sợi tóc thơm

Cỏ non ôm bàn chân mẹ

Thu xa, chớ có giận hờn


Đò chiều bến chờ lỡ khách

Thả buồn theo nước về xuôi

Ngập ngừng nửa về nửa ở

Dáng thu chợt thoáng qua rồi.


Vọng thu


Chiều biêng biếc chảy về đâu

Tự dưng nỗi nhớ gục sâu vào hồn

Nhớ vàng thu, buổi hoàng hôn

Buốt đau thân cỏ, cỏ hờn dỗi chân

Tay suông mười ngón bâng khuâng

Che sương cho tóc một lần rồi thôi

Trăng nghiêng soi bóng em ngồi

Hương thoang thoảng nhớ, mắt soi dặm buồn

Vườn thu vắng, lá thu buông

Rơi theo tiếng vọng ướt hồn thi nhân.


Tuổi xa người


Trời mênh mông, biển mênh mông

Ta về tắm một dòng sông ngọt ngào

Bồng bềnh, sóng sánh, lao xao

Hỏi trăng, hỏi nước bóng nào của em

Da thơm thơm áo lụa mềm

Tóc thơm vừa mớm dài thêm tuổi đời

Mười sáu, mười tám, đôi mươi

Năm mươi là tuổi xa xôi hay gần

Cái hương xưa dấu bàn chân

Ráng quên nỗi nhớ dần dần sẽ quen.


Hoa cúc vàng


Chỗ em đứng chờ anh qua

Bây giờ thiên hạ trồng hoa cúc vàng

Mỗi lần có dịp đi ngang

Thấy hoa anh tưởng áo hàng lụa bay

Nghĩ hoài sống mũi cay cay

Tám năm không trọn một ngày gần nhau

Hạnh phúc thường hay qua mau

Vắng nhau thì thấy ở đâu cũng buồn

Tự dưng thương ghế thương bàn

Nơi em đã để cho làn hương rơi

Anh muốn kêu lên em ơi

Nhớ gì nhớ đến chết người như không

Tay vò hoa cúc nát lòng

Vàng phai như ý chờ mong nhạt dần.

Nhà thơ Nguyễn Tấn On

Thơ Trackbacks (0) góp ý (5)   
 

                                           

                                      


N g u y ễ n  T ấ n  O n

- Sinh năm 1957

- Quê: Tư Nghĩa, Quảng Ngãi.
           - Hội viên Hội VH-NT Lâm Đồng

- Hiện ở tại:  69h1, Nguyễn Văn Trỗi, TP Đà Lạt.

- ĐT:  063.825.830 - DĐ:  0975.079.639

- E-mail: nguyentrandalat@yahoo.com

Tác phẩm đã xuất bản
       - Thơ Tặng Người - NXB Văn Nghệ 2000
- Phượng Xưa - NXB Văn Nghệ 2001
  - Hồn Quê - NXB Hội Nhà Văn 2003
        - Chuông Gió - NXB Hội Nhà Văn 2005

       - Vũng nhớ  - NXB Hội Nhà Văn  2008
Giải thưởng

                                  - Giải Nhất- Thơ lục bát tuyển tập Áo Trắng - 2000
                                  - Giải Thơ Tạp chí Sông Hương - 2003.

                 

CHÙM THƠ NGUYỄN TẤN ON:

Tình đảo

Tôi sinh ra giữa bốn bề sóng vỗ
Hương tỏi bay thơm đất thơm làng
chuyện ngày xưa đã thành chuyện dân gian
khi ông tôi cùng trai làng
theo lệnh vua ra đảo
tên Trường Sa cắm cột mốc biên cương
nhận tiền tử, vẫn hiên ngang vượt sóng
...và cha tôi
những năm chiến tranh nóng bỏng
cỡi sóng, vượt đèo khởi nghĩa "Ba Tơ"
đất nước hôm nay dưới một bóng cờ
tôi tiếp bước lên đường ra đảo
sóng ôm sóng vỗ ầm ào nỗi nhớ
trắng đất trời
bạc áo mặn môi
có những chiều chết đuối đám mây trôi
cùng đồng đội hát"bài ca ra trận"
lá bàng rơi đỏ lên màu mận chín
như máu ngàn xưa thấm vào đất ông cha
những người lính Việt Nam
là cột mốc cắm trên đảo Trường Sa
bao thế hệ, bao phong ba sóng dữ
bờ biển bãi cồn đời đời gìn giữ
giữa trùng trùng gian khổ
tổ quốc thiêng liêng
Trường Sa ơi !
đất không màu mỡ mà lắm dịu hiền
là xương máu của dân tộc Việt
gió từ đất liền
thổi qua đại dương bao lời tha thiết
tôi- như hải âu vỗ cánh
đạp sóng nhìn về
mùa giêng con gái
...và đám trẻ ở đảo
lượm vỏ ốc
xếp bản đồ VIỆT NAM.

Nhớ quê

Tôi có ai đâu
Mà đưa tiễn
Nhớ quê
Mua vé hai ngàn
Vào ga làm người đưa tiễn
Nhìn
Những cánh chim
Về vườn xưa chốn cũ
Bầy se sẻ đậu trên bờ cỏ mượt
Mổ vu vơ hạt nắng mùa xuân
Những con tàu nối thêm toa
Xe đò thêm lượt
Bao nhiêu người hối hả
Tay xách, vai mang
Quảy gánh một tình quê
Ai cũng có
Mẹ cha, quê hương là một
Con không về xin mẹ chớ chờ mong.


Mẹ và gánh Don

Quê tôi cửa sông nước hai
Khi đàn chim mía sớm mai gọi bầy
Mẹ tôi một gánh Don đầy
Dẻo vai rao bán đó đây xa gần

Đường làng hẻm phố ...dấu chân
Tiếng rao mời gọi tảo tần nắng mai
Ngọt lòng hương lúa giêng hai
Ngâm mình dưới nước miệt mài bắt Don

Áo tơi bạc thếch hoa mòn
Gióng mây tưa sợi vẫn còn tình quê
Bao năm chốn cũ quay về
Bếp xưa lạnh ngắt bốn bề mẹ ơi

Gánh Don mẹ gánh đất trời
Nuôi con ăn học một thời đó đây
Rưng rưng chạm gánh Don gầy
Mẹ không còn nữa ui* đầy nhớ thương.


Em có về...?

Tôi về đây núi Ấn , sông Trà
Nằm thoả thích cát dính vào da thịt
Con bói cá lao mình xuống nước
Vấp tiếng chuông chùa cong cành hoa lau
Một con sông hai dòng trong, đục
Áo trắng qua cầu một thời bên nhau
Sông Trà lún bóng trăng vàng nhớ
Thiên Bút đùn mây vẽ tài hoa
Gió hừng hực đi qua đồi Thạch Trận
Đá chạm nhau lửa phực nắng La Hà
Dấu chân để lại trên đá nguội
Có phải Cao Biền trảm thiên vương
Tôi về đây ôm lấy quê hương
Nghe rưng rức lời ca dao mẹ hát
Khói à ơi vương hàng cau xanh ngát
Em có về cùng tôi yêu thương...?



Về quê

Ta về tìm lại chút hương
Đã lâu ta ở phố phường rong rêu
Dòng sông soi một cánh diều
Khói đồng ai đốt cho chiều mù cay
Ta về không rượu mà say
Khoai lang lùi cháy hương bay ngát đồng
Áo tơi bật gãy mấy đông
Treo lên vách đất vẫn mông mênh trời
Ta về lượm tiếng à ơi
Hiên lòng gió thổi rối bời đống rơm
Ai về nhóm bếp nấu cơm
Cơm sôi buồn chín tàn rơm đỏ tình
Lời ru cong vút mái đình
Hoa cau tiếng rụng rập rình vầng trăng.
 

Sông quê

           Tặng: TRẦM THỤY DU

Khi mẹ ra sông Trà vo gạo

Con cá Bống vùi cát nhột bàn chân

Cha lên núi lượn củi về đun bếp

Nhìn trời xanh Thiên Bút Phê Vân

Những ngày mưa nguồn chốp bể

Gió giật áo tơi cha kéo vó mùa giông

Cá bông kho hôm đi học về trễ

Vui cùng bạn bè

Té nước dưới trời đông

Thời gian lớn lên theo từng con nước

Dòng sông cạn ánh tà dương

Để chiều vương vạt nắng

Phố lấn bãi bồi

Cá bống tha phương

Em lấy chồng xa nhớ bến sông giặt giũ

Tôi rời quê nhớ cá bống sông Trà

Hai mươi năm áo cơm lận đận

Thêm bao năm...có quên mất mùa xa...?

Bạn vào thăm mang cho cá bống

Chút tình quê nhớ chốn chôn nhau

Sợ ngày về mất đôi bờ xe nước

                        Sông quê ơi! Da diết một câu hò

Nhà thơ Lê Văn Sơn

Thơ Trackbacks (0) góp ý (3)   
 

Ban biên tập Trang TBTH vừa nhận được tập thơ "Những giấc mơ" của nhà thơ - nhà báo Lê Văn Sơn gửi tặng, tập thơ do Hội VHNT Quảng Ngãi xuất bản tháng 8/2009, xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.



LÊ VĂN SƠN

Sinh năm 1958

Quê quán: La Hà, Nghĩa Thương, Tư Nghĩa, Quảng Ngãi.

Hiện là: Chủ tịch Hội Văn học - Nghệ Thuật Quảng Ngãi

Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam.



Một số bài thơ của Lê Văn Sơn
:


VU VƠ

Nào ai biết ở đâu hư ảo
Anh và em xa cách cả vầng trăng.

Bạn của anh viết thơ làm báo
Báo nuôi thơ quá đỗi nhọc nhằn.

Trăm năm, rồi ngàn năm
Bia đá rêu phong, duềnh doàng bia miệng

Con thuyền nào phiêu lãng
Thèm triền sông quê nhà.

                   Sơn Tây, tháng 3/2002


VƯƠNG TƠ

Nào anh tệ bạc gì đâu
Sao em than thở âu sầu đầy vơi
Lỡ vương vài mớ tơ trời
Sợi rơi sợi gãy sợi trôi hoang đàng
Méo tròn trăm sự đa mang
Trăng không chịu khuyết cứ vàng mãi thôi
Nợ đời chấp chới mây trôi
Tóc xanh đã nhạt da mồi gió sương
Vắt lòng cho những yêu thương
Cũng vì em điệu nghệ thường... trăm năm.


TIẾNG CHIM TỪ QUY
(1)

Rừng già xào xạc trong đêm
Bếp nhà sàn bập bùng ánh lửa
Đứa con nhỏ mắt tròn xoe ngơ ngác
Nghe em hát Dê
-ô-dê (2)
Chồng của em đã đi rất xa
Không bao giờ về nữa
Cha mẹ chồng thương con dâu còn trẻ
Cho em bồng con về lại nhà mình.

Đi tìm nhau vượt mấy cánh rừng
Lội qua bao nhiêu con suối
Sao tình yêu đứt đoạn giữa chừng
Điệu Dê
-ô-dê nghẹn ngào
Chìm trong nước mắt.

Ngày mai
Người mẹ trẻ cõng đứa con thơ dại
Cõng theo nỗi đơn côi
Trở về nhà dưới bóng rừng heo hút...

Đêm cuối cùng ở nhà chồng em hát
-ô-dê vĩnh biệt một mối tình
-ô-dê cho sự sống hồi sinh
Em không muốn làm tiếng chim Từ Quy
Ngoài rừng khuya khắc khoải.

                                                Sơn Tây, tháng 3/2002


Chú thích:
(1): Một loài chim rừng thường hót lúc đêm khuya
(2): Điệu hát dân ca của đồng bào Kadong ở huyện Sơn Tây
.

Giới thiệu một số bài viết về tập thơ Chạm Bóng của Đinh Tấn Phước

Thơ Trackbacks (0) Thêm góp ý   
  


"Chạm bóng" - "chạm" MỘT MIỀN TÂM TƯỞNG

(Đọc "Chạm bóng" - Thơ Đinh Tấn Phước, NXB Văn học, 2009)

                                                                  NGUYỄN PHAN HÁCH

            Những thông tin ít ỏi qua một bài viết giới thiệu sơ lược về anh trên tờ "Văn nghệ Bình Định" số Xuân Kỷ Sửu mà tôi đã học, quả chưa nói được điều gì về thơ anh. Chỉ đến khi đọc hết 39 bài thơ trong tập "Chạm bóng", Nhà xuất bản Văn học vừa ấn hành, tôi mới nhận ra rằng, mình vừa "chạm" vào một  "bóng" người - "bóng" của một miền tâm tưởng, chập chờn ẩn hiện trong cõi người dâu bể đầy hệ lụy nơi trần thế sau "bóng" những con chữ hiện hữu.

            Thơ Đinh Tấn Phước là thứ thơ được chưng cất từ tâm can anh, tựa như toán học nghề nghiệp anh từng say mê theo đuổi rất kiệm lời, tiết kiệm tối đa những con chữ, cô lắng mà mênh mang, giản dị thuần phác mà dư vị đậm đà! Đó là loại thơ thứ thiệt, có địa chỉ sẻ chia, đồng vọng và trú ngụ được trong lòng người. Đấy là những cảm giác ban đầu khi chúng tôi đọc thơ anh, với tình cảm của những người trân trọng thơ và yêu thích thi ca, không biết cái cảm giác ấy sẽ lâu bền đến đâu, nhưng quả thực "cái buổi ban đầu" nó là như vậy, không thể nói khác được!

            Thổ lộ, bộc bạch, giãi bày là đặc trưng tự thân của thi ca, bởi thi ca bao giờ cũng bắt nguồn từ nhu cầu muốn được giao cảm với thiên nhiên, tạo vật, với con người và cuộc đời rộng lớn. Chính vì vậy, để thóat khỏi phần "xác" của mình, ngõ hầu đạt tới bộc lộ được phần "hồn" sâu thẳm, người sáng tạo thi ca phải tìm đến sự hóa thân như là một "cứu cánh" của thi pháp. Đinh Tấn Phước cũng không ngoài cái đó. Chúng tôi đã "chạm" vào cái "bóng" của anh để "chạm" sâu vào miền tâm tưởng trong thơ anh bắt đầu từ sự hóa thân đó.

            Có lúc Đinh Tấn Phước hóa thân làm " con nhện nước":

            ao bàu ngút ngát

            bèo giăng,

            tôi con nhện nước

          lăn tăn

          chiều giông gió....

                                                (Lời thưa)

            "Con nhện nước" thật thì chỉ loăng quăng mặt nước, chăng tơ bắt bóng hòng may rủi kiếm chút mồi, còn "con nhện nước" được Đinh Tấn Phước hóa thân này là con nhện trên ao "bèo giăng" "ngút ngát" nên chỉ "lăn tăn"..."chiều giông gió" mà thôi! Đến dòng cuối của bài "Lời thưa",  câu thơ như hẫng lại, như một dấu "lặng" trong âm nhạc, rồi chuyển sang một gam khác, mở ra mênh mang vô biên. Bài thơ ít chữ mà gợi khôn cùng, gửi gắm nhiều tâm tư sâu kín...

            Có lúc anh lại hóa thân làm một "cánh chim"  bay vô định, không dấu vết:

             tôi cánh chim bay

             không để lại vết gì

           chỉ mùi cỏ ướt

           đầy lối đi.

                                 (Mùa cỏ)

            Đó không phải là "Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa" (Huy Cận), mà là một cánh chim khát vọng chỉ muốn đằng sau cái "không để lại vết gì" ấy là một  "mùi cỏ ướt", "đầy lối đi". Ôi, niềm ao ước thơ mình mai này còn chút "hương"  của đám cỏ ướt đẫm sương đêm lưu dấu "đầy lối đi"  trên cõi dương gian, tưởng như thế cũng là tận cùng vậy! Dẫu cỏ ấy " còn nguyên màu đắng"  thì "chim áo già"  vẫn "cất giọng chàm nâu". Tôi thực sự xúc động bởi những câu thơ như thế!

            Nhưng dù hóa thân thế nào đi nữa, thì trước một hiện thực phũ phàng đau xót, cái "tôi" thi nhân vẫn không thể lẫn tránh được, buộc phải bộc lộ nguyên "tạng" của nó. Ai rồi cũng có ngày tiễn biệt mẹ cha về với cõi vĩnh hằng, không thể nào khác được. Đinh Tấn Phước có một cách bộc lộ rất riêng của anh, không lẫn với một giọng thơ nào. Giữa ngày đông giá rét, anh "lầm lũi" "đội tang" thấu cảm cái lạnh "se lòng" của gió bấc và tự đáy lòng dấy lên một nỗi khát khao "khát một nụ cười của cha /thèm một bát cơm của mẹ".

      cỗ xe trôi

      thầm thì

      không mũ rơm

      con lầm lũi

      đội tang    

                (Ngày đông)

Đây không chỉ là nỗi đau của giờ phút tiễn biệt, mà là nỗi đau của cả một phần đời người sau khi cha mẹ lìa bỏ cõi trần. Ôi, nụ cười độ lượng khoan dung, bát cơm xiếu mẫu... "hiếu tử chi tâm" mới thấu đạt nhường nào. Cái "lầm lũi" "đội tang" giữa  "Ngày đông" ấy của Đinh Tấn Phước như những con sóng lòng khỏa vào lòng ta, thành những dư ba buốt nhói con tim lay động và thức tỉnh. Đọc những câu thơ này, ta lại nhớ Trúc Thông với những lời cầu khấn cái phút giây thiêng liêng người mẹ quá cố trở về cõi dương gian: "Xin Người hãy trở về quê /Một lần cuối ... một lần về cuối thôi/ Về thương lại khúc sông trôi/ Về buồn lại thuở một thời tóc xanh...". Ta cảm động biết bao và không thể không thầm cảm ơn cả Trúc Thông và cả Đinh Tấn Phước đã bộc lộ giùm ta một lát cắt tâm linh từ cõi lòng sâu thẳm của những người con hiếu đễ với cha mẹ.

            Đặc biệt trong tình yêu, Đinh Tấn Phước có những tứ thơ mới lạ đầy khắc khoải và xa xót. "Bóng chân cầu" là một bài thơ như vậy! Trước sự trôi chảy của thời gian, ở "nhịp thứ 9" như mặc định một cái gì viên mãn sẽ đến trên cây cầu tình ái của cuộc đời, thì trớ trêu thay một "lỗi lầm" bỗng đột nhiên xuất hiện, thế là mối tình tan vỡ, để lại một nỗi đau không thể nguôi ngoai "vết sẹo màu son còn nguyên/ trên ngực trái".  Và cái "vết sẹo" dường như không thể lành lặn lại được ấy cứ làm "dợn" lên những đợt "sóng sông êm"  về những kỷ niệm đẹp đẽ của một mối tình, để rồi bây giờ hoài vọng lại càng thêm xa xót và tiếc nuối:

            chiều đứng ngóng sông xưa

            con nước xuôi đã lâu

            về biển

            anh,

            riêng vẫn đổ

            bóng chân cầu.

            Giờ em ở đâu?

                                     (Bóng chân cầu)

            "Bóng chân cầu" là bóng một tình yêu lão thực, bền vững không dễ nhạt nhòa, trong tiếng gọi thảng thốt một mối tình đã lùi vào quá vãng. Phải chăng đó chính là cái bóng của một niềm tâm tưởng hun đúc nên tính nhân văn và sự bền chặt của tình yêu, giá trị vĩnh hằng của tình yêu đích thực, cho dù đôi khi đó chỉ là một tình yêu đơn phương, tưởng như vô vọng.

            Một tình yêu như thế sẽ vẹn nguyên theo ta đến chặng cuối cuộc đời, còn hơi thở cuối cùng ta còn yêu đến giấy phút cuối cùng:

            khi ta nhắm mắt

            lìa đời

            nắp quan mở hội

            nhạc rơi bốn bề

            thôi em từ giã câu thề

            đành như cánh én

          bay về cõi không

                              (Lúc chết)

            Yêu đến như thế cũng là tận cùng vậy!

            Và cuối cùng không thể không kể đến miền tâm tưởng của Đinh Tấn Phước dành cho Hà Nội yêu thương. Với "Thu Hà Nội""Hà Nội cũ",  anh đã gửi trọn tâm tình của mình đối với một Hà Nội rêu phong, cổ kính, sừng sững cùng chiều dài lịch sử dân tộc. Với anh đó là một "Hà Nội rất cũ/ như bờ đê/ chiều Yên Phụ/ lối mòn gót cỏ/ gánh hàng hoa tan chợ đi về"; một "Hà Nội rất xưa/ như là cổ tích/ mái đình cong võng điệu thời gian", một "Hà Nội mùa đông/ những cây bàng đỏ bầm chết rét/ tiếng dương cầm lạnh ngắt/ rơi từng giọt / khói,/ sương"; một "Hà Nội rất thơ/ mùa thu và giọng nói/ Hà Nội cửa ô, Hà Nội ả đào"... Một Hà Nội như thế đã nhen lên trong anh một tình yêu son trăng, non trẻ tự thuở nào:

            anh vẫn yêu Hà Nội cũ

            chưa cầu Thăng Long

            không xe cộ ngợp trời,

            không nhà mái bằng

            không chợ người khổ lụy...

            khi Hà Nội còn trong anh .... rất trăng!

            Thơ Đinh Tấn Phước là vậy! Càng đọc ta càng "chạm"  sâu vào miền tâm tưởng thầm kín của anh. Ta như được sẻ chia cùng anh những đau thương và hạnh phúc trầm ẩn nơi cõi người đầy bất trắc, nhưng vô cùng đáng sống và đáng yêu. Hãy "Chạm bóng" cả 39 bài thơ của anh, chắc chắn bạn đọc sẽ thấu cảm tình ý của anh qua một giọng thơ ... là lạ này!

                                                                                                Hà Nội, 27-8-2009

                                                                                                           

Chạm bóng

(Tập thơ của Đinh Tấn Phước - NXB Văn học, 2009)

            
   
         
Đinh Tấn Phước là tiến sĩ toán, nhà giáo, rồi chuyển ngành làm việc ở lĩnh vực hàng không, anh tham gia nhiều đề tài nghiên cứu khoa học trong ngành Giáo dục    Hàng không. Anh chuyên nghiên cứu, giảng dạy hình học giải tích trong mặt phẳng và không gian. Từng lãnh đạo một trường chuyên, rồi phụ trách phòng Kỹ thuật - Công nghệ và làm giám đốc một sân bay ở miền Trung. Đinh Tấn Phước bắt đầu viết những câu thơ thứ nhất từ lúc mới mười ba tuổi. "Chạm bóng" là tập thơ thứ 2 của anh được xuất bản trong vòng mấy năm qua.

            "Chạm bóng" gồm 39 bài thơ, khổ 16,5 x 24,5 in đẹp và trang trọng. Từ tập thơ đầu tay (Gió mùa - NXB Hội Nhà văn, 2003) đến "Chạm bóng" là sự tiến bộ rất rõ rệt của thơ anh. Từng bài đã có được "độ chín" về cảm xúc, và chắc tay hơn trong cách thể hiện. Mỗi bài thơ đều có cấu tứ làm  cho thơ anh trở nên sinh động, không bị dàn trải. Điều đáng quý hơn là khi đọc xong "Chạm bóng" của anh, ta không có cảm giác mang máng về những điều đâu đó mà ta đã gặp!

            Thơ anh không cầu kỳ nhưng chẳng hề dễ dãi, nó rất thật, nhưng là cái thật của thơ chứ không phải là sự gói ghém cuộc sống thật vào thơ. Cái thật của anh, thật đến dễ thương:

            ".... đứng giữa đời

            chỗ con đang vật lôn

            Mẹ sợ cho con

                               còn dại

                                                không chịu nổi với đời

            .........................

            Vậy mới biết

           tuổi bốn mươi - rồi vẫn còn dại

            nhưng con mong

                                       được dại mãi

                                                       mẹ ơi!

            Tôi chợt nhớ đến câu nói của nhà mỹ học Nga Trernưxepxki: "Cái đẹp là cái có thật".

            Tôi biết Đinh Tấn Phước được đào tạo rất bài bản những kiến thức trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, nhưng lại chưa qua một trường đào tạo, bồi dưỡng về văn học nghệ thuật. Chính vì vậy, mà thơ anh không bị ảnh hưởng vào khuôn mẫu nào! Anh đến với thơ, làm thơ bằng sự đam mê, nhiệt huyết, như là con ong rừng làm mật chứ không phải là con ong ở trại nuôi công nghiệp, cạnh lò đường!

            Thơ anh, cảm xúc từ cuộc sống, cuộc sống luôn sinh sôi hoa thơm và nhụy ngọt. Ta hy vọng sẽ nhận được nhiều "giọt mật" từ thơ anh!

                                                                     Đỗ Văn Đông

                                         (Tạp chí Non Nước số 147 - tháng 6/2009)                    

            
            
NGÀY ĐÔNG

            Đi về phía cánh đồng

            cỗ xe

            ngập ngụa

            chở nặng nỗi buồn

            trái tim lăn

            chầm chậm

            ngày đông.

            Gió bấc se lòng

            khát một nụ cười của cha

            thèm một bát cơm của mẹ,

            cỗ xe trôi

            thầm thì

            không mũ rơm

            con lầm lũi

            đội tang.

            Trong kho tàng thi ca Việt Nam, từ trước tới nay đã có hàng chục bài hát, hàng trăm bài thơ hay viết về Cha, về Mẹ. Có ai tính đếm? Khi ví mỗi bài là một hạt ngọc, thì chúng ta có thể xâu thành một chuổi. Nếu lấy pháp số của Phật giáo làm biểu tượng 108 thì "Ngày Đông" của Đinh Tấn Phước xứng đáng là một hạt ngọc trong 108 hạt ngọc kia...

            Vậy thì tại sao, bạn không dành chút thời gian "hiếu tử chi tâm" của mình để thẩm thấu bài thơ ấy, nhỉ!

                                                                                          Hạnh Phương

            
            
BÓNG CHÂN CẦU

            Ở nhịp thứ 9

            lỗi lầm

            xe đạp ơi dợn sóng sông êm

            thời gian trôi

            vết sẹo màu son còn nguyên

            trên ngực trái.

            Chiều đứng ngóng sông xưa

            con nước xuôi đã lâu

            về biển.

            anh,

            riêng vẫn đổ

            bóng chân cầu.

            Giờ em ở đâu?

            Đây là một bài thơ tình hay! Tác giả là một người vừa làm thơ và hình như, vừa làm toán, nên rất kiệm lời. Có lẽ vô tình, bài thơ đã được viết về một kỷ niệm nào đấy, theo kiều Haikư (Nhật Bản), trong đó, có một không gian mơ hồ (ở nhịp thứ 9 của một chiếc cầu?); có một thời gian mơ hồ (xưa, đã lâu, và giờ đây? - để chiêm nghiệm) và có một xung đột (để lại một vết sẹo mà nó đẹp vì màu son) kể cả có một mâu thuẩn đầy chất triết lý giữa biến và bất biến (nước đã xuôi, nhưng bóng chân cầu vẫn đổ!). Ở đây, một lần nữa, cho ta hiểu rằng, không ai có thể tắm 2 lần trên một khúc sông!

            Ngoài ra, tác giả đã nổ lực rất cao trong việc cách tân thơ. Bài thơ chỉ gồm 3 khổ rất ngắn. Tất cả các từ được dùng đều thật đơn giản, không khuôn sáo cầu kỳ. Đặc biệt, khổ thứ 3 chỉ có 4 từ trong 1 câu - lại là một câu hỏi đầy khắc khỏai! Nhưng nó là một khổ thơ bao trùm nhất dành cho tác giả, mà cũng có lẽ, dành cho cả mọi người?

                                                                                                TRẦN PHỤ

           

            Đinh Tấn Phước đôi khi lồng toán vào thơ! Nhưng không sao! Tất cả là thơ mà! "Cái áo có thể nhận chìm cành sen" kia mà! Ngôn ngữ của thơ ca đôi khi là ngôn ngữ của triết học, của tôn giáo, của chính trị - tất cả đều đẹp miễn là người đọc bỏ hết nhưng vây quanh của thành kiến để yêu, để mến, để quý thơ!

            Đọc thơ Đinh Tấn Phước, xin mọi người hãy đọc chậm.... và hãy đọc "Chạm Bóng"...

                                                                               Tố Diễm - Trần Văn Mỹ

            

         
Ta gặp Đinh Tấn Phước như đang làm một cuộc chuyển hóa những con toán thành những con chữ thần kỳ! Chúng nhảy múa, cùng nhau xô đẩy, chen vai thích cánh để... thành thơ! Như người nghệ sĩ ảo thuật thuần thục, Đinh Tấn Phước rải ra chung quanh mình hàng hàng mẫu tự và và tự bản thân chúng biết mình phải đứng vào đâu! Thơ Đinh Tấn Phước không chấp nhận sự sáo mòn lưu cữu, Anh đã tự tạo cho mình một lối đi rất mới, rất riêng...

            Đọc hết "Chạm Bóng" của Đinh Tấn Phước, ta như vẫn còn nghe tiêng tiếc, chưa nỡ buông rời...

                                                                                      Hoài Chi - Hạ Miễn

Chùm thơ của nhà thơ H.Man

Thơ Trackbacks (0) góp ý (2)   


   

                                         (Nhà thơ H.Man đứng bên tay trái)
Ruộng cấy

(Kính tặng những người đàn bà đi chân đất)

Những người đàn bà chân dất
Chiều quê thân đẫm nắng vàng
Thì thọp đồng sâu ruộng cạn
Một đời đi dọc, đi ngang
Lưng khom bước lùi, bước giật
Hai sương lấy héo làm xanh
Dẫm lên bóng mình để sống
Mà nuôi những ước mộng lành
Những người đàn bà chân đất
Lặng lẽ trong chiều mênh mông
Hoàng hôn sôi trên lưng áo
Bình minh reo vui trong lòng
Lẫn trong chiều sương xuống chậm
Có mẹ và con gái tôi
Giữa nền văn minh lúa nước
Giữa những xuân, thu biển đồi
Tôi đi trên bờ ruộng cấy
Bước trồi, bước sụt thương mong
Xấu hổ là dòng thơ viết
Quê mình gạo trắng, nước trong...


Tình không


Không là biển
chẳng là sông
Giữa đời nhau
rộng
cánh đồng thời gian
Em về
Tay bế, tay mang
Sá chi chiếc lá thu vàng đã xưa
Không là nắng
chẳng là mưa
Trong nhau còn chút âm thừa đấy thôi
Có gần
lòng cũng chia đôi
Cũng quan san tự ngày trôi dạt nào
Không là dốc dựng đèo cao
Cheo leo bữa rượu, trầu trao tay người
Để trang thơ
nát môi cười
Để yêu thương
vỡ
chín mười phương xa
Không là bướm
chẳng là hoa
Chỉ là chiếc bóng chiều qua giữa đời
Em về
mỏi cuộc rong chơi
Tôi ngu ngơ gọi
mấy lời: Tình không...

Mùa xuân hoa tím


Xuân trước - áo màu hoa tím
Chị khoe tím suốt nương cà
Lũ bướm theo về quanh ngõ
Chập chờn liếp cải đơm hoa
Tóc xõa lưng chừng cửa mới
Môi thơm lá cỏ vườn nhà
Mắt ướt lời mưa bữa trước
Mơ màng bao giấc mơ xa


Rồi những vòng xoay năm, tháng
Quay đều xa quay thời gian
Chị về làm trăng nhà khác
Để buồn cho bữa sang ngang
Xuân nay em về xóm cũ
Hoa nghiêng nắng đổ hiên nhà
Xuân của đất trời rộng mở
Xuân lòng - tím một mùa hoa.

 

 

 

 


Design by JuliettaRose Studio. Powered by Vnweblogs