Trang chính summary liên kết cá nhân Albums Tự giới thiệu Admin

Chúc mừng năm 2009

Tất cả Trackbacks (0) góp ý (1)   
   

Lời chúc đầu năm 2009



   Tờ lịch cuối cùng của năm 2008 đã đừng ở con số 31, có nghĩa là 365 ngày đã qua đi, các bạn và từng thành viên trong nhóm "Thiên Bút thi hữu" lại thêm một tuổi đời. Một năm nhìn lại, với bao nhiêu kỷ niệm vui buồn đã ở lại phía sau. Hôm nay là ngày 01 tháng 01 năm 2009,  một năm mới bắt đầu, Nhóm TBTH và các bạn bước tiếp chặng đường dài phía trước. Mong rằng trong năm 2009, nhóm TBTH sẽ kết nối với nhiều bạn mới, cùng chia sẻ những sáng tác, bài viết, cảm nhận, góp ý... của các bạn. Nhóm "Thiên Bút thi hữu" xin chúc các bạn và gia đình năm mới An khang - Hạnh phúc - Thắng lợi.


BBT Thiên Bút thi hữu

Nhà thơ Đinh Tấn Phước

Tất cả Trackbacks (0) Thêm góp ý   
 

ĐINH TẤN PHƯỚC

Sinh năm: Nhâm thìn (1952)

Quê quán: Tịnh Khê, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi

Nơi ở hiện nay: Phường Nghĩa Lộ, Tp Quảng Ngãi

Tiến sĩ toán học

Giám đốc Sân bay Chu Lai

ĐT: 01676837534.



Buồn vui của một tiến sĩ trước ngưỡng "tri thiên mệnh"

Dường như đến một lúc nào đó, người ta thường chững lại, chiêm nghiệm chặng đường đã qua về những buồn vui sâu kín. Tựa như vậy, Tiến sĩ toán học Đinh Tấn Phước, ngoảnh lại quãng lặng trước ngưỡng "tri thiên" ấy về những kỷ niệm một thời hăng hái, hồn nhiên cùng những gian truân, phiền toái.

Đinh Tấn Phước nho nhã, lịch lãm, ẩn chứa sự thông minh, dù đã quen thân, cũng khó nhận biết một cách chắc chắn vì tính cởi mở hòa đồng, vui vẻ thân thiện cùng mọi người. Cộng những điều chúng tôi được biết về gia đình người tiến sĩ này, vì là người cùng làng, nên sự hăng hái, hồn nhiên của anh có căn cốt: Một gia đình hiếu học và yêu nước.

Cha mẹ anh vốn là học sinh Trường Lê Khiết - trường thuộc loại lớn của Liên khu 5, thời chín năm, đã tạo được một số tài năng. Không ít người về sau trở thành tiến sĩ, giáo sư, ký giả, nhà văn, nhà khoa học, chính khách, nhà hoạt động xã hội... có tiếng trong nước và quốc tế.

Cha mẹ anh thuộc loại giàu trong làng, được thừa hưởng từ phía ngoại - điều rất hiếm trước đây đối với con gái khi xuất giá! Ông bà ngoại rất thương con, lại quý chú rể có học, đã cho một số ruộng đất, loại thượng đẳng.

Cuối năm 1954, ông bà Đinh Tấn Ích - Tạ Thị Phương Phi vẫn bí mật tiếp tục công việc của đoàn thể. Tết Mậu Thân 1968, có kẻ khai báo, cả hai cùng bị bắt.

Lúc đó, Đinh Tấn Phước chưa đầy 15 tuổi, đang học đệ tứ (lớp 9), rất bức xúc, đã đệ đơn lên Thượng nghị viện với những lời lẽ khá thuyết phục, rằng: "Cha mẹ tôi chỉ là dân, làm ăn lương thiện, không can gián chính trị, hại quốc gia, tại sao các ông lại bắt, dân chủ của chế độ này ở chỗ nào?". Và, anh tin, anh sẽ thắng!

Quả không sai, khoảng một tuần, Đinh Tấn Phước nhận phúc đáp: "Ủy ban Điều tra Thượng nghị viện sẽ làm việc với Ty Cảnh sát quốc gia Quảng Ngãi". Mười ngày sau, ông bà Đinh Tấn Ích - Tạ Thị Phương Phi được trả tự do!

Đây có lẽ là dấu ấn khắc đậm tâm trí cậu bé Phước về khả năng và lòng tin ở công lý, lẽ phải trong quá trình lập thân, lập nghiệp.

Là giáo viên giỏi trong kỳ thi đầu tiên của tỉnh Nghĩa Bình, Phước được điều về làm Phó Hiệu trưởng Trường THPT Lê Khiết. Còn chân ướt chân ráo, Phước đã đề xuất hai việc, có thể nói... "động trời": 1- Tổ chức bang giao với một trường THPT nổi tiếng của Pháp - Trường Henri Bercon. 2- Thành lập một trường đại học có tên đầy đủ: Đại học Hoa Lư Quảng Ngãi. Cố nhiên không ít người có thể tin ngay chú "cừu non" này chơi trò... bắt chim giữa trời!

Riêng Hiệu trưởng Trần Văn Anh lại khác, ông rất hiểu, hết lòng ủng hộ, tạo mọi thuận lợi, vì qua thời gian công tác, Hiệu trưởng Trần Văn Anh biết rõ Phước là người đã nói là làm đến cùng, có kết quả cụ thể.

Được tiếp sức, ngoài bảo đảm chuyên môn của một phó hiệu trưởng, Đinh Tấn Phước tranh thủ tối đa mọi thời gian... vắt chân "chạy" để có sự đồng tình giúp đỡ của các vị từ giáo sư, viện sĩ, nhà khoa học đến các cơ quan Bộ Giáo dục, Bộ Ngoại giao... để sớm có trường đại học. Nói gọn, chứ chạy cho ra việc, quả là trầy o tróc vi.

Suốt mấy năm ròng nào thư từ, công văn, tờ trình hết địa phương tới Trung ương mà tàu xe hồi đó khổ lắm, chưa kể tiền nong ăn ở, đi về, trường làm chi có đủ, anh phải khèo thêm của vợ, vay mượn của bạn bè...

Công việc đã mười mươi, ai cũng chắc như ghẹ.  Ấy thế mà, chỉ một chút, một chút thôi: Thủ tục ở địa phương làm chậm thời gian, coi như việc chẳng thành. 

Nhưng cũng may, số của trường còn hên, được bù lại cái ý tưởng thứ nhất, làm vơi đi ít nhiều sự buồn chán, mệt mỏi của những người thiện chí, thiện tâm: Trường Henri Bercon chấp nhận, đã cử ngay một đoàn giáo viên sang thăm và kết nghĩa, đúng dịp Trường THPT Lê Khiết kỷ niệm 60 năm thành lập.

Đây là sự kiện có ý nghĩa nhiều mặt, tác động đáng kể: Nhà trường thêm điều kiện mở rộng, phát triển hơn về chất trong những năm qua: Tỉ lệ học sinh thi đỗ cao, nhiều học sinh giỏi cấp quốc gia.

Đinh Tấn Phước vốn là người  năng động: Giáo viên dạy giỏi, chơi được nhiều loại nhạc cụ, từng tham gia phong trào học sinh, sinh viên đấu tranh chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa, từng phụ trách đoàn văn công học sinh, sinh viên trong Ủy ban Khởi nghĩa Quảng Ngãi, là cơ sở kháng chiến, được tặng thưởng Huân chương chống Mỹ.

Sau giải phóng, anh có thơ đăng trên các báo, tạp chí văn nghệ của địa phương và Trung ương. Mới đây anh lại có tập thơ "Gió mùa" do Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam ấn hành.

Dẫu đã gắn bó với nghề giáo trên hai mươi năm, nhưng ai biết sự đưa đẩy của cuộc đời? Đinh Tấn Phước thanh thản, sang mặt trận khác - mặt trận đi mây về gió, cố thi gan với bác Tề và cũng với cương vị... Phó Trưởng phòng Công nghệ Tổng Công ty Hàng không miền Trung, dù nghề giáo không dễ chi anh thôi da diết.

Công việc ở nơi mới ổn định, nhưng như cái chợ: Anh luôn nhớ thầy cô, đồng nghiệp, các em học sinh. Người ta bảo Đinh Tấn Phước, người của công việc, đã đành, còn có cái tình rất sâu đậm với bất cứ ai gặp khó, như trường hợp nhà giáo, nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng bị bại liệt, Đinh Tấn Phước đã giúp đỡ và vận động bạn bè, đồng nghiệp kẻ ít người nhiều, được 15 triệu đồng và luôn thư từ thăm hỏi người bạn không may này.

Ai cũng nói tính khí Đinh Tấn Phước hệt bà mẹ: Nhanh nhẹn, hào phóng, hay thương người. Không biết giống bà mẹ mặt nào, chứ cái may mắn thì quả không sai: Bà Tạ Thị Phương Phi nguyên cán bộ phụ nữ Quảng Ngãi, sau giải phóng 20 ngày, đã xung phong hiến cho Nhà nước trên 50.000m2.

Năm 1988, tổ chức mới gợi ý sơ, bà hiến luôn số đất, ước trên mười lô nhà, sát đường Phan Đình Phùng, trung tâm thành phố để xây dựng nhà trẻ Hoa Mai. Với tổng diện tích đất ruộng bà đã hiến, theo thời giá bây giờ, không dưới vài trăm tỉ đồng! Tuy vậy, nhưng con cháu đều vui vẻ với việc làm của cha mẹ. Tất cả họ vẫn sống đàng hoàng bằng sức lao động của chính mình, không đến nỗi như cái thời tem phiếu long đong quái dị ấy.

Sự cảm nhận của nhiều người, nhất là các cụ trong làng rất quý dòng họ Đinh, một đại gia đình sống có nền nếp, ăn ở với bà con tử tế, không mích lòng đứa nhỏ, nên con cháu được nhờ cái ân đức đó mà người nào cũng học giỏi, làm ăn nên nổi.

Anh ruột Đinh Tấn Bảo, Chủ nhiệm khoa tiếng Anh, Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Ngãi, đã dịch nhiều sách khoa học, văn học. Em gái Đinh Thị Minh Hiền, Tiến sĩ văn học Anh, Đại học La Trobe, Australia, hiện là cán bộ giảng dạy Đại học Ngoại ngữ Đà Nẵng.

Vợ là Trần Thị Kim Phú, giáo viên vật lý, Trường THPT Trần Quốc Tuấn, nay là Hiệu trưởng Trường Mầm non tư thục - trường đầu tiên, ra đời năm 1992 ở Quảng Ngãi, được ngành Giáo dục đánh giá tốt nhiều mặt. Con gái Đinh Thị Đoan Hương, Thạc sĩ ngành Giáo dục mầm non.

Qua chuyện Tiến sĩ Đinh Tấn Phước, cộng nếp gia đình của anh thì rõ, tuổi trẻ thường nhiều ước mơ, nhiều ý tưởng hay, đôi khi táo bạo, nếu gia đình, xã hội kịp đón bắt, sẵn sàng làm "bà đỡ" chăm chút vô tư, chí ít cũng giữ được phần bền của bộ gốc, may ra tạo nên sức sống đúng thực, rất tự nhiên của nó.

                                                          Nhà văn - Nhà thơ Nguyễn Trung Hiếu

Thơ Đinh Tấn Phước:



MÙA CỎ

1.

tôi cánh chim

bay

không để lại vết gì

chỉ mùi cỏ ướt

đầy lối đi.

2.

chỉ có cỏ còn nguyên

màu đắng

chim áo già

vẫn cất giọng chàm nâu.

3.

bờ sương lách

ngút ngàn cỏ lú

tăm mây

bóng cỏ

tự soi mình.

4.

mùa cỏ chín

đốt lòng tro mục

gò lưa thưa

nặng chút cỏ lau

chiều ngóng đợi

không lời hẹn ước

lối cỏ xưa

lẻ sắc phai màu?


TRÁI MÙA CAU


Lặng yên

trước đền thiêng

bầy dơi trở thành vĩnh cửu.

Ta như con dơi treo ngược đời mình

vịn vào chỗ vấp.

Không ai được không ai mất

đó là sự thật buồn

trong vắt

tiêng tiếc điều chi?

Giấu trong tay

những mảnh màu cũ kỹ

về lại ngồi khâu

trái mùa cau lá trầu cũng héo.

Đêm trở mình

đáy lòng hoen rỉ

biết tựa vào đâu?


BÓNG THỨC


Anh đốt trong anh ngọn lửa

giữ đêm

đom đóm khuya

cùng trời bay ngược lại

thế là mình không lạc nhau.

Trong u u mù mịt

bóng,

tăm,

hơi thở em từ phía ấy

dấy lên

làm lệch nhau vài phút

ngóng tìm.

Gữa thâu đêm

đụng vào cơn mê

cựa quậy

cọng sương mới sa

ngọn gió chừng hiu hắt

tiềm trong ta

một đời nén lại

đọng, lan, rung, toả, cháy,

rụng xuống nỗi buồn. Xé ruột

tràn lên cả niềm vui. Rợp lòng.

Thế là hạnh phúc. Muộn.

hoá ra nó giản đơn

ở phía bên kia của thời gian

vốn là hạt bụi

anh bắt được qua ánh mắt em

sau những đêm dài

thức trắng.

Đêm Noel

Tất cả Trackbacks (0) góp ý (10)   


 

Đêm Noel


Bất chợt mùa đông về phố

Ngơ ngác hàng cây phượng già

Sắc màu điểm tô lễ hội

Noel ngày Chúa ra đời

Đường vào nhà thờ đầy hoa

Em bước nhẹ nhàng du dương

Bài Thánh ca buồn ai hát

Lung linh huyền ảo mờ sương

Chúa trời ban phước trên cao

Chúng sinh chắp tay khấn nguyện

Cầu mong an lành bình yên

Cho người vui đêm Noel.

                  Hồ Nghĩa Phương

Chùm thơ "Thất tình" của Nguyễn Tấn Hải

Tất cả Trackbacks (0) góp ý (1)   

Nguyễn Tấn Hải - 1955
Đức Chánh, Mộ Đức, Quảng Ngãi
Hội viên Hội VH-NT Quảng Ngãi
ĐT: 0935144577
Email:
nguyentanhaimocay@gmail.com


Thất tình


.10

Áo bay rờn mộng đêm dài
Tình yêu nào cũng chia hai dòng buồn.
Thuyền ai qua bến Tầm Dương
Cho ta gởi lại thanh gươm đã cùn
Rằng em ngậm kín mùa xuân
Xua mây về động nhạc run cõi vàng.

.11
Chạy theo ngửi chút hồng nhan
Thấy em chết giữa thiên đàng nào xa

.12
Ừ thì em của người ta
Sông là của biển mây là của mưa
Tay nghi ngờ vẫy tiễn đưa
Môi gian dối đổ lệ thừa xuống mi

.13
Ừ thì người bỏ ta đi
Con chim nó hót giọng gì nghiêng nghiêng
Đưa tay vẽ nụ cười hiền
Buộc đời ta ở mái hiên nhà người

.14
Thuyền xuôi con nước buông xuôi
Thuyền xuôi ta đứng ngậm ngùi bên sông

.15
Mai sau đổ lục phai hồng
Môi còn rên nhỏ cơn giông thật thà
Thì dù em của người ta
Cũng xin được phút gọi là của nhau

.16
Là thôi nước chảy qua cầu
Trăng đi bỏ lạnh bên lầu nhân gian
Là thôi mắt nội môi ngàn
Là thôi chuyện cũ để vàng thiên thu

.17
Ngày xưa có gã lưng gù
Yêu nàng công chúa ngồi thu dáng chờ
Thì đừng bảo anh ngu ngơ
Yêu đương ai cũng dại khờ như nhau

.18
Người chưa nói đã nghe đau
Người chưa nói đã nghe quay quắt lòng
Thà là người ở đầu sông
Để ta cuối bãi ngồi mong nhớ người
Thà là người khép nụ cười
Mà không em ạ đời vui vẫn là...

.19

Vì dầu trong dạ yêu ma
Ở trong đằm thắm mà ra hửng hờ
Em muôn thuở vẫn là thơ
Ta muôn thuở vẫn ngồi chờ đợi suông

.20
Em đừng vẽ mặt đóng tuồng
Làm sao ta biết cội nguồn ta đâu

.21
Vì rằng không thất lạc nhau
Nên bài thơ cũ nát nhàu đam mê
Vì rằng ta rất u mê
Nên từng tiếng guốc đi về chiêm bao

.22
Em đi ta giữ được nào
Đìu hiu phố thị nghẹn ngào phồn hoa

.23
Yêu nguời chưa nói mà xa
Thần tiên rồi cũng bỏ nhà đi hoang

.24
Mắt môi hồ vỡ cung đàn
Mùa thu bỏ lá bên ngàn quạnh hiu
Mùa đông mưa gió tiêu điều
Có em trong bước tàn xiêu ta về
Mùa xuân ra đứng bên lề
Dửng dưng như thể chưa hề dửng dưng

.25
Bỏ đi như một tên khùng
Nỗi buồn khoác áo hồng nhung gọi mời
Từ trong giòng lệ im hơi
Làm sao em biết cuộc đời buồn tênh.

.26
Mai về giữa bến Tư Nguyên
Ơi giòng sông cũ còn mềm mắt xưa
Ngày đi không vẫy tiễn đưa
Ngày về lệ chẳng trổ vừa độ bông.

.27
Bán chồng sách quý sang sông
Về ngang trường cũ nghe lòng xót xa
Thôi thì em của người ta
Còn ta ta của con ma thất tình



Nhà thơ Bùi Thông được kết nạp vào Hội VH-NT Quảng Ngãi

Tất cả Trackbacks (0) Thêm góp ý   
 
Ban biên tập Trang webblog "Thiên Bút thi hữu" vùa nhận được tin:
      Vào ngày 05/12/2008, BCH Hội Văn học - Nghệ thuật Quảng Ngãi đã xét kết nạp thầy giáo - nhà thơ Bùi Thông quê Đức Lân, Mộ Đức vào Hội.
       Thay mặt BBT Trang TBTT xin gửi lời chúc tốt đẹp đến nhà thơ Bùi Thông.
                                                                                   TBTH


Xin giới thiệu hình ảnh liên hoan mừng nhà thơ Bùi Thông đón nhận quyết định vào Hội tại Tp Quảng Ngãi, chiều ngày 08/12/2008. Tham dự tiệc mừng gồm: họa sĩ Lê Ngọc Bình - PCT Hội, nghệ sĩ Quang Tuấn, các nhà thơ: Hô Nghĩa Phuơng, Hà Quảng, Xuân Phước, Nguyễn Phương, Huỳnh Vân Hà, Nguyễn Tấn Hải.




Quảng Ngãi, Một thời để nhớ

Tất cả Trackbacks (0) Thêm góp ý   
 

Ban biên tập Trang webblogs TBTH vừa nhận được bài viết: "Quảng Ngãi, Một thời để nhớ" của nhà thơ Minh Triết Trần Thiện Đạt (USA) gửi về, chúng tôi xin chân thành cảm ơn tác giả và trân trọng giới thiệu bài viết này với bạn đọc.

                                                                                                       TBTH



Quảng Ngãi, Một thời để nhớ

 

Viết về Quê hương như viết cho Mẹ. Tôi đinh ninh như thế nên mọi hư cấu, tưởng tượng hoặc văn chương bóng bẩy không cần thiết. Nhất là những người con bỏ quê, bỏ Mẹ đi đã lâu, khi trở về, tóc mình đã bạc trắng, mà Mẹ thì không còn, quê thì nhiều thay đổi. Tôi nhớ đến cái ông Hạ Tri Chương bên Tàu, trong một bài thơ, đại khái ổng cũng viết như thế. Ống nhà thơ ấy bỏ quê đi lâu lắm, dễ có đến gần 50 năm như tôi. Khi ông trở về làng cũ, mấy đứa trẻ không biết ông là ai, từ đâu mà đến. Tôi bây giờ cũng vậy. Cũng hệt như ông Từ Thức xưa kia bỏ Thiên Thai về trần. Quê hương của ông họ Từ nầy cũng thay đổi khác hoắc. Và tôi bây giờ cũng chẳng khác ông là mấy ! Buồn lắm! Nhớ lắm! Người ta nói đời người ngắn ngủi, có là bao! Ừ, ngoảnh đi ngoảnh lại mà 50 năm như một cái vèo! Thi sĩ Tản Đà cũng nói: "Vèo trông lá rụng đầy sân"... Chiếc lá từ ngọn rơi xuống gốc thì "vèo" là có lý, còn mình, gần 50 năm lắm chuyện ta bà thế sự mà cũng gọi là "vèo" sao!!! Chắc bạn không tin đâu, hãy sống với cái tâm trạng của tôi bây giờ, trong buổi sáng hôm nay, ngồi cạnh bụi tre già, trong khu vườn của quán cà phê Tuế Mai Viên (Tp Quảng Ngãi) thì rõ.

Cạnh cái bàn nhỏ, trên chiếc ghế phô-tơi, gió buổi sáng mùa hè thổi nhẹ, tôi một mình xoay xoay ly cà phê trên cái dĩa nhỏ, lòng miên man nhớ nghĩ về một thời thơ ấu đã qua trên mảnh đất thân yêu nầy. Hơi bàng hoàng một chút, cứ nghĩ là một giấc mơ bởi cách nơi nầy không xa - Bến Tam Thương, cạnh dòng Trà Khúc, mẹ đã chôn cái nhau của mình ở đó mà cho đến bây giờ, hơn nửa đời người lưu lạc, có được phút ngồi đây rất đổi ấm êm, tràn đầy hạnh phúc. Như người con trở về nhà sau một chuyến đi xa, ngả vào lòng mẹ, nủng nịu, vòi vĩnh; tôi bây giờ cũng vậy! Từ nơi gốc tre già nầy, tôi thật sự trở về làng Hải Châu (Nghĩa Hiệp,Tư Nghĩa), về với thời thơ ấu để muốn nói rất nhiều với quê xưa làng cũ.

Mười lăm năm! cô Kiều của cụ Nguyễn Du cũng có chừng ấy năm êm đềm trong khu vườn Thúy để chiều chiều thẩn thơ dạo chơi hái hoa bắt bướm. Tôi cũng vậy thôi mà! Tuổi thơ ai mà không thế! Có điều tôi hơi khác Kiều nhi cái khoảng thời gian lưu lạc đến gấp mấy lần! Có đứa con nào bỏ Mẹ, bỏ quê đi xa mà khi trở về không dậy lòng lưu luyến! Hồi đó, phải rồi từ nơi cái bến Tam Thương, nghe Cha tôi nói lại, đêm tôi mở mắt chào đời, máy bay Pháp còn bay lượn bắn phá trên quê hương 4 tỉnh Nam - Ngãi - Bình - Phú. Hai năm sau gia đình tôi phải dọn về Hải Châu và tôi lớn lên suốt thời thơ ấu ở đó. Sáu tuổi, lần đầu thấy được ngôi trường Đồng Viên, mà chị Hai tôi học ở đó với thầy giáo Tài. Cũng lần đầu, tôi được chị Hai tôi mua cho 2 viên kẹo bột nơi quán bà Tựu trước cổng trường. Qua năm sau được cha tôi dắt ra trường Câu Lạc Bộ để học lớp Một với thầy Phước. Học được đâu chừng một tháng, thầy Phước thấy tôi đọc trên bảng làu làu, đề nghị với cha tôi lên lớp Hai và học với thầy Lê Tá ở Thế Khương. Trường ở xa nhà, đi bộ mỏi chân mà vui. Hai chị em tôi có nhiều bữa mang tơi đội nón đến trường, gió thổi lạnh lắm, áo ấm không đủ phải co ro mà đi. Năm đó vẫn còn là vùng kháng chiến do Việt Minh kiểm soát. Để tránh máy bay Pháp oanh tạc, tụi học trò chúng tôi phải đến trường lúc 5 giờ sáng. Xung quanh trường, dưới các bụi tre, đều có hầm trú ẩn để tránh máy bay thả bom. Học trò mỗi đứa phải mang đến trường một gàu tro bếp để góp vào đổ chung trong hầm tiểu. Học trò trai hay gái bắt buộc phải tiểu vào đó, để mấy tháng sau trường lấy phân tro bán cho dân. lấy tiền mua phấn viết bảng. Viên phấn hình vuông, đựng trong cái giỏ tre, giấy thì làm bắng chuối nên có màu nâu, không phải trắng như sau nầy. Mực thì có hai màu là xanh và tím, ngòi viết cũng có hai loại là viết lá tre nhỏ vá viết bầu to hơn. Tôi may mắn là được cha tôi dạy thêm ở nhà bằng mấy quyển sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư có hình và có chữ nên vừa đọc vừa xem hình cũng vui. Sau khi trận Điện Biên Phủ kết thúc, Pháp thua thì niên học lớp Hai của tôi cũng vừa chấm dứt. Trước khi nghỉ hè, thầy Tá bắt học trò chép bài "Ta đi tới"  của Tố Hữu đem về nhà học thuộc lòng. Hồi đó, tôi thấy ai cũng xôn xao, người thì sắp đi tập kết ra Bắc, tiền Tín phiếu có in hình Cụ Hồ sắp đổi ra tiền có in hình người gánh dưa của Pháp, lính Quốc gia sắp tiếp thu Quảng Ngãi. Cha Mẹ tôi thì lo sắp đặt lại việc làm ăn sau 9 năm bị đình trệ vì kháng chiến. Tháng 9 năm 1954, hai chị em tôi được cha tôi dẫn ra trường Câu Lạc Bộ để theo học lớp ba. Tôi còn nhớ như in, chiều hôm đó, tụi tôi ngồi ngóng đợi thầy giáo tới mà lòng đứa nào cũng lo sợ và hồi hộp. Không biết thầy giáo có dữ không, có đánh học trò không, chương trình học có khó không??? Rồi cuối cùng ông thầy của chúng tôi cũng vào lớp. Đó là thầy Lương Bá Bả (hiện nay ở thị trấn Sông Vệ), thầy trẻ, trông hiền, nhất là nụ cười của Thầy rất có cảm tình. Năm sau, vì thiếu trường ốc, chúng tôi chuyển đến học ở thôn Đồng Viên. Mái tranh vách đất, nép dưới hàng tre, trường chúng tôi thường gọi là trường bà Chín Nghinh, vì bà có cái quán bán kẹo đầu ngỏ. Thầy Bả dạy chúng tôi suốt hai năm lớp Ba và lớp Nhì, đứa nào cũng khoái. Thầy dạy hay và vui, thương học trò và nhất là hay kể chuyện sử rất hấp dẫn. Vì Thầy đọc sách truyện Tàu nhiều và có khiếu kể chuyện. Hồi đó là chế độ Quốc gia, hết Việt Minh, chúng tôi sáng nào vào lớp cũng đứng nghiêm chào cờ hát Quốc ca và bài "suy tôn Ngô Tổng thống". Tuổi trẻ đầy non nớt và vụng dại. Chế độ Quốc gia cũng còn mới mẻ, đối với bọn trẻ chúng tôi cái gì cũng mới cũng lạ. Như lần đầu tiên thấy cái bót đánh răng, kem đánh răng như cục xà bông có mùi thơm dễ chịu thì lấy làm lạ lắm. Nhìn đâu cũng thấy tân kỳ và văn minh. Tập vở có in hình ông đạp xích lô, có hai loại, loại 100 trang với loại 50 trang đều có kẻ hàng và chừa cái lề màu đỏ. Sách giáo khoa càng ngày càng nhiều hơn, cuộc sống nhiều thay đổi, ai cũng khá giả hơn trước. Bắt đầu thấy giây thun xuất hiện, người ta xâu các dây thun lại với nhau thành một dây dài 100 sợi, làm đồ chơi bán cho tụi nhỏ chúng tôi. Rồi những sách thơ mỏng dính như Thạch Sanh -  Lý Thông, Thoại Khanh - Châu Tuấn, Phạm Công - Cúc Hoa thấy bày bán ở chợ chiều. Tôi coi hết và hình như những chuyện thơ nôm khuyết danh đó đã là những nguồn cảm hứng cho tôi làm thơ sau nầy trước khi tôi biết đến truyện Kiều của cụ Nguyễn Du.

Những năm tháng mài đủng quần nơi ghế nhà trường bậc tiểu học đối với tôi là thời kỳ êm đềm hạnh phúc nhất. Vì là nhỏ nhất lớp so với các bạn nên các anh chị "bạn" ấy coi như em út, ai cũng cưng, có viên kẹo hay miếng dừa cũng chia cho. Tôi nhớ đến anh Dương trưởng lớp, chị Nghĩa, chị Nhung... hơn tôi cả hàng chục tuổi. Lên lớp nhất, học với Thầy Nguyễn Phương Trình, tôi vẫn còn là đứa bé con loắt choắt, chân tay khẳng khiu mà các anh chị ấy thì đã trưởng thành... Nghe đâu, hết năm học với thầy Trình, các anh chị ấy ở nhà lấy chồng lấy vợ, sinh con đẻ cái... và bây giờ, nếu gặp lại, chắc các anh chị ấy ai cũng có cháu nội, cháu ngoại hết rồi... Và biết đâu, trong cuộc chiến dai dẵng mấy chục năm dài, chưa chắc họ còn được nguyên vẹn với súng đạn vô tình...  Như chị Tiên con thầy giáo Lợi bị lạc đạn, anh Luận đi nhảy núi bị lính Quốc gia bắn chết, anh Hối anh Hận anh Dư chết vì ung thư... Còn nhiều nhiều bè bạn cũ hồi ấy giờ không còn bao nhiêu. Cái thằng bé con loắt choắt năm xưa giờ còn sót lại, buổi sáng hôm nay, ngồi nhìn từng gốc tre làn ngà nhớ quay nhớ quắt về một thời đã khuất. Bạn bè, thầy giáo, bà con xóm làng ai còn ai mất sau một cuộc bể dâu!

Vườn xưa giờ đã đổi chủ! Trước nhà đã hình thành thêm một xóm nữa toàn người xa lạ nghe nói họ gốc từ Nghệ An, Hà Tỉnh. Cây dương cao vút vườn nhà ông Trọng mà hồi trước những con quạ đen hay lót tổ đã không còn, cây quít núi nhà bên mà hồi nhỏ chị em tôi hay lén cha sang hái trộm cũng không thấy nữa. Chỉ còn một gốc khế trong vườn mà chị em tôi hay leo trèo hái trái giờ đã cỗi nhưng tôi vẫn nhận ra nó như nhận ra người bạn cố tri.

Hôm trở lại vườn xưa, nhớ đến cái giếng trước nhà. Những đêm trăng sáng, tôi hay ra ngồi chơi nơi đó đếm những vì sao lấp lánh. Và những cánh vạc thường bay về núi thành từng đàn vào những buổi chiều, thỉnh thoảng buông một vài tiếng rời rạc của con đầu đàn nghe sao buồn da diết. Ở quê là vậy đó. Tuổi thơ cũng là như thế. Vừa buồn vừa vui. Sống ở đó mà ít biết tận hưởng, không biết nó đẹp và đáng yêu biết chừng nào. Rồi khi bỏ nó đi xa mình mới thấy tiếc, thấy nhớ, thấy thương.

Hết năm lớp nhất, nắm được bằng tiểu học trong tay mừng lắm. Lần đầu tiên trong đời, mình có bằng cấp. Không biết dùng để làm gì nhưng cũng được Cha lồng vào khung treo trên vách, chắc là để khoe với xóm giềng có thằng con nên danh nên phận chăng! Hy vọng là thi đậu Đệ thất để được học trường Trần Quốc Tuấn nhưng mộng lớn tan tành. Học trò thi cả mấy ngàn đứa mà chỉ lấy mấy trăm. Tuy thi rớt, mà cha mẹ tôi lại vui vì khỏi phải cho con đi học xa. Từ Hải Châu ra thị xã chỉ có 10 cây số, bây giờ tính ra ở đây chì có hơn 6 miles mà cho là xa xôi, cha mẹ cứ lo cho con mình ra học ở đó gặp nhiều rủi ro hơn là may mắn, cho nên đành phải ở nhà chịu dốt. Thời kỳ nầy, may mắn là trong làng, có anh ba Liêm con bác Giáo Thưởng ở xóm giữa có nhiều sách tiểu thuyết và báo chí cho tôi mược đọc. Lúc ấy anh Ba đã là thầy giáo dạy học bên Long Phụng (Đức Thắng, Mộ Đức). Tôi thèm cái tủ sách của anh lắm, muốn đọc sách Tự Lực Văn Đoàn hay các báo Sài Gòn Mới, Sài Gòn Mai, Phụ Nữ Diễn Đàn ... nên phải đến nhà anh hoài. Nhè lúc thấy anh vui với chị Cấn là mình lân la tới mượn hết quyển nầy tới quyển khác. Đọc đã đời! Cũng nhờ tôi là bạn học với chị Tuyết em gái anh Ba nên anh dễ dãi chứ người khác chưa chắc đã được anh cho mượn... Hồi ấy người ta hay nói: "Có tiền mua sách để mà coi, Mất công cho mượn mất công đòi" cho nên mượn sách không phải là dễ! Lại thêm chú Phan Ấm làm Thông tin quận, chú Triễn chủ tịch xã... ai cũng cho tôi mượn báo đem về đọc. Hồi đó, tuy mình ở chỗ thiệt là quê mùa mà đọc được hết báo chí Sài Gòn là cũng nhờ các vị ấy. Phải nói là cái nền móng học thuật hay văn học gì gì đó của tôi được bắt nguồn từ các ân nhân ấy. Nhân đây tôi cũng xin được tri ân thầy giáo Liêm, ông Chủ tịch xã Triễn, chú Thông tin quận Phan Ấm... đã giúp phương tiện khai sáng trí tuệ cho đứa bé nhà quê nầy vậy! Còn nữa, trong làng còn có anh Tống Thế, làm nghề thợ dệt, đi quân dịch 2 năm trở về, thường hay chơi với tôi tuy anh lớn hơn tôi đâu chừng mươi tuổi. Anh Thế thích thơ, đàn mandolin giỏi, hát hay...  thường dạy tôi hát những bài như  Những đồi hoa sim, Tàu đêm năm cũ...   rồi còn dẫn tôi ra tỉnh, đãi tôi món đu đủ chín ăn chung với đá bào. Trời ơi, cái thằng bé nhà quê làm sao! Đu đủ chín trong vườn nhiều quá ăn không hết, vậy mà ra tỉnh ăn nó với đá bào thấy vừa ngọt lịm, vừa mát rượi đã quá chừng. Lại còn được nghe nhạc phát ra từ cái loa thật bự. Lần đầu tiên, cũng lần đầu tiên nghe cái bài "Nỗi buồn gác trọ" sao thấy hay và buồn thấm thía. Đứa bé nhà quê như tôi đã bắt đầu thấy hơi lớn lớn, hơi trưởng thành một chút ... Và cũng vì những cái món ăn tinh thần đầy chất lãng mạn do các "ân nhân" đó ban cho mà tôi đã sớm biết yêu, biết rung động... biết hẹn hò, biết rủ nhau đi chơi chùa Hang Phú Thọ, viếng chùa Thiên Ấn... để rồi chỉ biết ấp úng như Hàn Mặc Tử đã viết "ấp úng không ra được nửa lời" nên cuối cùng không đi đến đâu hết... Mấy cuộc hẹn hò chỉ làm hao tốn vài ba trái dừa xiêm hoặc vài ba chai nước cam rồi chấm hết. Bây giờ, sau gần 50 năm trở lại cố hương, mấy người ngày xưa đã già móm xọm, có người đã khuất núi từ lâu... nhưng nghĩ lại vẫn còn thấy đẹp. Mình thấy thương cái thời tuổi nhỏ, thương cái xóm thôn nghèo, thương những con người chất phát thật thà... ấy cho nên dù đi đến những đâu đâu, đã xa vời vợi mà mãi mãi chẳng hề nguôi quên.

Ly cà phê ở Tuế Mai Viên đã nguội từ lâu, tôi ngồi bên gốc tre già cũng đã hơn 2 tiếng đồng hồ. Những tiếng chim hót trong vườn đã bắt đầu nhịp nhàng lên tiếng như xôn xao chào đón  tôi trở về, về lại chốn quê xưa cảnh cũ đầy ắp yêu thương. Nghĩ cho cùng, sao không nghĩ cho cùng những ngày thơ ấu ấy, từ nơi cái làng quê nghèo đã cho mình những chất liệu sống đầy thơ mộng. "Những người muôn năm cũ... Hồn ở đâu bây giờ" xin hãy nán lại, dù một thoáng, mời ghé vào khu vườn tưởng nhớ của tôi để làm nên những chất liệu sống ấy cho "Quảng Ngãi, Một thời để nhớ" thể theo lời khuyến khích đầy thúc giục của ông anh Đào Đức Nhuận, Trưởng ban Báo chí của Hội Ái Hữu Quảng Ngãi Nam Cali, phụ trách Đặc san Xuân năm nay. Giữ tròn lời giao ước với Đào tiên sinh là bài viết dưới hình thức như nói chuyện. Nói chuyện với kẻ còn người khuất, với xóm với làng, với ruộng vườn, đường thôn, sông nước. Tôi cũng biết viết kiểu ấy tất nhiên sẽ dở, sẽ không hấp dẫn nhiều nhưng mà những cái dở ấy, cái thô kệch ấy lại là những cái rất thật, rất đơn sơ như lời đứa con thưa gửi với mẹ. Với quê hương Núi Ấn - Sông Trà, con cũng xin được cúi đầu thưa gửi chân thành rằng tuy phận con nay dù "bèo trôi sóng vỗ" nhưng mãi vẫn không thôi ray rức nhớ thương về cái xứ "nắng bụi mưa bùn" nghèo khổ ấy!!!

Lời cuối cùng xin thốt lên nơi đây là: "Cố hương ơi! hãy cho con nói một lời cảm tạ với Quảng Ngãi, nơi đã che chở, nuôi dưỡng, đùm bọc con suốt một thời thơ ấu".

 

                                                                                             

Minh Triết Trần Thiện Đạt

 

Chùm thơ Nguyễn Quang Trần

Tất cả Trackbacks (0) góp ý (2)   
  

Bút danh khác: Phong Trần, Trà My
Quê quán: Phổ Phong, Đức Phổ, Quảng Ngãi
Phóng viên Báo Quảng Ngãi
Hội viên Hội VH-NT, Hội viên Hội Nhà báo VN
ĐT: 0935243481. 
=================================

 

         Đa đoan


Em thì trẻ mà ta thì luống tuổi

Chuyện tình yêu đâu phải dễ dàng

Sao em cứ dập dềnh như sóng

Để tình ta trôi vào cõi đa đoan

Phải kiếp trước ta bị ai phụ bạc

Nên kiếp này cứ đau đáu con tim

Chốn phong trần ta lê chân bước

Tình yêu ta sao cứ gập ghềnh

Ta đi suốt một thời trai trẻ

Dĩ vãng quặn mình, tất cả lùi xa

Ta còn lại tóc màu sương muối

Và nỗi cô đơn năm tháng không nhoà

Em hiện giữa mùa xuân khoe sắc

Tuổi trinh nguyên chúm chím nụ hồng

Ta lặng lẽ ngồi bên ly rượu đắng

Thả lòng buồn vào cát bụi hư không

Ừ ! thì để cho trái tim rướm máu

Dập dềnh trôi theo con sóng xô bờ

Ta không dám neo thuyền trên bến đậu

Sợ cái nhìn ai đó thờ ơ

Em thì trẻ, mà ta thì luống tuổi

Chuyện tình yêu  đâu phải dễ dàng

Nhưng trời ạ, tình yêu nào biên giới!

Nên trọn đời ta vẫn cứ đa đoan.


THƠ  TÌNH TẶNG  RIÊNG  MÌNH


                   Ta thường làm thơ " con cóc"

Tặng em và tuổi học trò

Ngày ấy em vô tư quá!

Mắt huyền lấp lánh ước mơ

Tim ta một vùng hoang vắng

Một vùng cỏ mọc lan man

Yêu em mà không dám nói

Thơ tình như gió lang thang

Em là mây trôi trong nắng

Ngọt ngào khúc hát đồng dao

Ta là biển đông xanh thẳm

Tình em sóng vỗ dạt dào

Cái thuở học trò vụng dại

Ta nào mơ áo vu quy

Chỉ  là vần thơ trên giấy

Một mình ôm mối tình si

Bây giờ em thành thiếu phụ

Hai tay con bế con bồng

Thơ ta trở thành cát bụi

Mây buồn bay giữa hư không

Ta vẫn làm thơ con cóc

Nhưng ta chỉ tặng riêng mình

Tình yêu như mơ như thật

Như là một kiếp phù sinh


LỤC BÁT TAM THƯƠNG



Ta về bến cũ Tam Thương

Bến xưa còn đó, người thương đâu rồi ?

Lang thang mây trắng lưng trời

Lửng lơ dòng nước, ai  người nhớ ai

Nặng tình, thuyền cứ dằng dai

Chèo khuya gõ nhịp, đêm dài nhớ mong

Một mình ta đứng bên sông

Tiếng chim bói cá giữa dòng vu vơ...

Em đi. Sông đợi. Bến chờ...

Ta ôm Thiên Bút, làm thơ riêng mình

Ngàn năm, sông vẫn nguyên trinh

Trăm năm, ta lạc cuộc tình nơi nao

Chuông chùa, đồng vọng xưa, sau

Bến sông ta đứng, bạc đầu nhớ thương

Lũy tre xanh, khúc ru buồn

Hắt hiu ngọn gió, cố hương bời bời...

Nặng tình chi? Tam Thương ơi !

Một lần lạc bước, một đời lang thang

Người đa đoan. Sông đa đoan

Miên man dòng nước. Miên man nỗi niềm...

Ta về chôn chặt trong tim

Nỗi cô đơn, của riêng mình ta thôi

Dòng sông vẫn lửng lờ trôi

Tiếng chim bói cá bồi hồi, thiết tha ...

Thương em. Thương mẹ. Thương cha

Tam Thương, còn đó. Mình ta ôm sầu

Ngàn năm mây trắng về đâu?

Trăm năm, ta bạc mái đầu vì ai?

                                        Bến Tam Thương, chiều tháng 7/2006


SAO EM MẶC ÁO MÀU SIM TÍM?


Sao em mặc áo màu sim tím?

Để tím đời ta nỗi mong chờ...

Chiều nghiêng Thiên Bút, mây biêng biếc

Tím cả tình ta, những vần thơ !

Cớ sao em lại cứ trêu ngươi ?

Lãng đãng bên ta như mây trời...

Để ta phút chốc thành thi sỹ

Thành thuyền không lái giữa dòng trôi !

Biết trách ai đây, hỡi giai nhân ?

Lận đận đời ta, kiếp phong trần

Sao em mặc áo màu sim tím ?

Ta bỗng lạc đường, lính quýnh chân !

Ngàn năm Thiên Bút vẫn mộng mơ...

Mặc khách, tao nhân có hững hờ ?

Aó ai tha thướt, theo chiều gió

Phê vân, ai đã dệt hồn thơ

Rách nát riêng ta những mảnh tình

Bởi yêu, nên vẫn cứ nguyên trinh

Chiều nay, ta lại về Thiên Bút

Một vùng trời đất hóa mông mênh...

Sao em mặc áo màu sim tím ?

Cho cõi lòng ta cứ rối bời...

Cho khách đa tình dùng dằng bước

Cho mây Thiên Bút lững lơ trôi...


GỬI NGƯỜI EM GÁI XA QUÊ



Em có về Quảng Ngãi cùng anh ?

Nơi có những cánh đồng, cò bay thẳng cánh

Nơi có nắng, gió miền Trung mang hương thơm nồng đậm

Và tình người, tình đất, miên man...

Em có về thăm dòng Trà Giang ?

Nơi trai, gái thương nhau, như thương bên bồi, bên lở

Nơi có bến Tam Thương, với những cánh buồm no gió

Tiếng chèo khuya, thao thức đợi ta về...

Nhớ bát don sông Trà, thơm thảo hồn quê

Nhớ cá bống kho tiêu, có vị cay, vị mặn

Ta lớn lên, như củ khoai trong nắng

Từ những giọt mồ hôi thấm đẫm của bao người

Bước phong trần, ta lang bạt ngược, xuôi.

Kỷ niệm quê hương, vẫn vẹn nguyên trong ký ức

Nơi ấy, có mẹ, có cha, có bát cơm thơm và nước mắt

Có những người ra đi... từ lũy tre làng

Em có về Quảng Ngãi cùng anh ?

Nơi có con đường, ngày xưa chúng mình cùng đi học

Chiếc áo mới mẹ may, với bao đêm ao ước...

Nhà có thêm người, khi tóc mẹ hoa râm.

Bao kiếp người, có lẽ, đã ngàn năm

Góp nhặt những vần thơ giữa hai bờ sông nước

Dòng Trà Giang, dù mùa trong, mùa đục.

Trái tim ta, vẫn trong vắt mối tình đầu.


          QUAN HỌ RIÊNG MÌNH


     Câu ca quan họ "người ơi..."

Để ai bịn rịn, đầy vơi nỗi lòng

Từ ngày con sáo sang sông

Một mình ta, với cõi lòng buồn hiu

Một thời, tha thiết lời yêu

Lặng nhìn con nước liu riu chân cầu

Thương nhau, cởi áo trao nhau

Tình say một thuở. Nỗi đau một đời

Câu ca quan họ "người ơi..."

Nước trôi lơ lửng, thuyền trôi bềnh bồng...

Thôi thì, em cứ sang sông

Cùng người ta trọn duyên nồng trăm năm

Ta về tìm sự lãng quên

Thả câu quan họ lênh đênh giữa dòng

Tình ta như có, như không

Em bước theo chồng. Ta đứng nhìn theo...

Thương con nước chảy liu riu

Thương câu quan họ nắng chiều sầu tuôn

Ta về nhặt bóng hoàng hôn

Làm vầng trăng sáng, đêm buông trước rèm

Trăm năm, không phải duyên mình

Người đi. Ta ở. Cuộc tình chia phôi

Câu ca quan họ " người ơi..."

Hoá thành nỗi nhớ suốt đời, riêng ta...


         CÂU HÁT LÝ THƯƠNG NHAU


        
Tháng năm này, ta trở lại bến sông xưa

Nơi em đã trao ta lời hẹn ước

Con đò nhỏ, bồng bềnh sóng nước

Đưa em đi từ dạo ấy còn đâu

Một mình ta giữa triền cát trắng phau

Sông lặng lẽ, buồn tênh. Người xưa vắng...

Những lối mòn, lời hẹn hò trên bến

Thương hoài câu hát lý thương nhau

Em sang sông, triền cát bạc đầu

Chim bói cá, thôi chao mặt nước

Nhịp chèo khuya như tiếng lòng rưng rức

Điệu lý buồn nuối tiếc những ngày qua

Tháng năm này, em đã đi xa

Về bên ấy, làm dâu nhà họ

Ta còn lại trong lòng con sóng vỗ

Và ly rượu nồng để quên thuở yêu nhau

Ta trở về cùng chiếc bóng canh thâu

Lang thang bước một mình trên bến vắng

Em ra đi bỏ quên lời hẹn...

Nắng buồn rơi trên điệu lý ngày nào


KHOẢNH KHẮC SÔNG TIỀN

                         Tặng các bạn tôi ở Tiền Giang



Khoảnh khắc thôi, từ ánh mắt riêng em

Anh chợt thấy trời Mỹ Tho lãng mạn...

Bình minh nghiêng, nước sông Tiền lấp loáng

Anh thả lòng giữa sóng nước miên man...

Thương làm sao, cô gái Tiền Giang!

Em đã để lại trong anh một tình yêu trong vắt

Một tình yêu, từ trái tim em, rất thật!

Dữ dội và dịu êm như dòng nước sông Tiền

Khoảnh khắc đa đoan. Khoảnh khắc trữ tình

Khoảnh khắc bình minh, lung linh Cù lao Thới(*)

Anh lặng lẽ giữa hai làn tóc rối

Nghe gió về, hun hút bến sông xưa...

Khoảnh khắc thôi, từ ánh mắt mộng mơ

Có ánh lửa của Gò Công, Rạch Gầm- Xoài Mút

Có hào khí của thời ông cha ta đánh giặc

Cho non sông đẹp mãi ngàn đời

Biết nói gì trong khoảnh khắc em ơi!

Khoảnh khắc của tình yêu và nỗi nhớ

Để lòng anh, hoá thành ngọn gió

Thổi dạt dào trên sóng nước phương Nam

Anh yêu rồi, ánh mắt riêng em

Như yêu mây, trời Tiền Giang phóng khoáng

Nửa cuộc đời phong trần, lận đận

Bước chân anh dừng lại bến sông này.

                                                    Mỹ Tho tháng 4/2005

                                                   (*) Cù lao Thới Sơn: khu du lịch sinh thái nằm trên sông Tiền


CHIỀU MỘ ĐỨC


           Em hát chi bài ca " con đường xưa"

Để lòng anh thương hoài Đồng Cát

Chiều Mộ Đức, mây trời bát ngát...

Con đường buồn, vắng bóng một người đi

Dòng sông Thoa, ngày trước nói gì?

Mà con đò vội đưa em về bên ấy!

Đò sang sông, lòng em còn gửi lại

Lời hẹn hò cho bến nước tương tư

Hoàng hôn buồn, anh cắn bút làm thơ

Góp nhặt tình yêu của một thời áo trắng

Trách làm chi tuổi học trò lãng mạn

Câu thơ tình, không mặc áo vu quy

Người yêu ơi! Sao em vội ra đi?

Để anh đứng một mình bên bến nước

Vắng em rồi, con dường xưa thổn thức

Đêm trăng lên, anh gõ nhịp hát vu vơ...

Không gian yêu của Nguyễn Quang Trần

Tất cả Trackbacks (0) Thêm góp ý   
 


         Người ta biết đến Nguyễn Quang Trần nhà thơ nhiều hơn là nhà giáo hoặc nhà báo. Tôi quen anh, khi anh cùng với một số anh em thi nhân ở Quảng Ngãi thành lập nhóm thơ "Thiên Bút Thi Hữu" thì tên anh cũng thân quen với với những người yêu thơ trong và ngoài tỉnh. Anh đã từng là sinh viên khoa Lịch sử - Chính trị  trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn khóa 1979 - 1983. Tuy học Sử nhưng anh rất có duyên với thơ ca. Từ những năm tháng còn ngồi trên giảng đường đại học, anh đã sáng tác và từng có tên trên báo, tạp chí các tỉnh và trung ương.

Có một thời, anh đã từng đứng lớp giảng dạy. Do đó, có một số bài thơ in dấu ấn của sân trường, lớp học rất lãng mạn, dễ thương. Những vần thơ trẻ trung chất chứa tình yêu tuổi học trò thơ dại:

"Sáng nay em đến lớp

Mây trời bay miên man

Tà áo em tha thướt

Cho mùa thu ngỡ ngàng"

(Như một lời hò hẹn)

Là đứa con của quê hương Đức Phổ kiên cường, anh đã cầm súng khi cây bút trên tay còn chưa vững. Nói gì trong nỗi nhớ tiếc một thời áo trắng khi chưa mặc trọn chiếc áo học sinh, anh đã phải khoác áo lính ra chiến trường. Cho nên không gian này còn là niềm khắc khoải, tiếc nuối tuổi thơ đã trôi qua trong chiến tranh li loạn:

"Con đường xưa rơi đầy hoa phượng

Nhưng đâu rồi cái thuở nguyên trinh...

...Em nhớ gì ngày xưa ấy không em

Có biết lòng ta đang âm thầm nuối tiếc

Bên gốc phượng ta ngồi góp nhặt

Những đóa hoa rơi trên tuổi học trò"

                       (Một thời áo trắng)

Thơ anh vắng không gian chiến trường. Bởi lẽ, tuổi mười lăm ăn không nên đọi, nói không nên lời, biết cầm súng đánh giặc đã là giỏi lắm rồi, biết thế nào là chia ly thế nào là mất mát. Tuy vậy, thảng hoặc cũng có một vài bài anh có đề cập đến chiến tranh nhưng ở một góc độ khác chứ không hề thấy anh tái hiện không gian chiến trận:

"Đời chiến binh bao nỗi buồn vui

Những buổi hành quân mưa rừng lạnh buốt

Những trận đánh người còn người mất

Những đêm xa quê thương nhớ đến bồn chồn

Cuộc đời này bao kẻ tính thiệt hơn

Nhưng người lính vẫn tâm hồn thanh thản"

                         (Người hạnh phúc)

Có thể, Quang Trần đã muốn lướt qua dĩ vãng đau thương vì tuổi thơ phải sớm cầm súng. Anh đau vì chiến tranh đã cướp đi tuổi thơ hồn nhiên, thơ mộng của đời mình:

"Ta đã đi suốt một thời trai trẻ

Dĩ vãng quặn mình, tất cả lùi xa

Ta còn lại tóc màu sương muối

Và nỗi cô đơn năm tháng không nhòa"

                                  (Đa đoan)

Tất cả giờ đây chỉ còn đọng lại niềm tiếc nuối bâng quơ, đành chấp nhận làm người đi:"Góp nhặt tình yêu của một thời áo trắng" (Chiều Mộ Đức) để âm thầm gói trọn nỗi nhớ niềm yêu của một thời vụng dại, thơ ngây:

" Em đi trinh nguyên áo trắng

Ta thương một thuở sân trường

Diêu bông, ai người đã hẹn

Để ta lầm lũi tha phương"

                     (Bâng quơ)

Đôi khi kí ức ùa về khiến trái tim anh đau đớn khôn nguôi:

"Tuổi học trò bỗng trở lại trong anh

Khi tiếng trống tan trường vang vọng

Khúc hát ru của mùa hè nóng bỏng

Tiếng ve ngân xao xuyến hàng cây"

                              (Gửi lại em)

Thật đúng với bút danh Phong Trần, anh không thể ở yên một chỗ với vai trò thầy giáo, tuy làm thầy ở nhiều không gian như dạy Triết hoặc học ở Trưởng Đảng Nghĩa Bình (Quy Nhơn); ngoài dạy lịch sử, chính trị ở các trườngg THPT Mộ Đức, Đức Phổ, Trà Bồng nhưng máu phong trần lãnh tử trong anh vẫn cuồn cuộn chảy... Từ ngày chuyển sang làm báo, được đi đây đi đó nhiều, thơ anh đã thật sự khởi sắc.

Cho dù có đi nhiều, sáng tác nhiều nhưng thơ anh vẫn chan chứa một chữ yêu đằm thắm, nồng nàn. Vẫn là những vần thơ thâm trầm, sâu lắng, nhưng là một Quang Trần yêu như điên dại trần gian này. Tiếc nhất, nhớ nhất và yêu nhất vẫn là tình yêu không thành của thời trai trẻ vì: "Em quên lời hẹn ước

Về làm dâu nhà người"

Để:   "Ta suốt đời ôm hận"

"Ta khóc kiếp thi nhân"

                    (Ảo ảnh)

Trở lại với không gian yêu buổi đầu đời. Trái tim yêu Quang Trần đưa ta về thôn Vạn quê anh, đi trong không gian hương hoa lúa ngạt ngào trên những con đường vắng, đếm nỗi buồn cô đơn:

"Cho đến một ngày giữa nắng trong

Chia tay thôn Vạn em theo chồng

Ta đứng một mình trên đường vắng

Nhặt bóng em đi giấu vào lòng"

                           (Thôn Vạn)

Yêu da diết, yêu mãnh liệt và si mê, chỉ có thể thấy ở Quang Trần. Không yêu được con người thực, anh ôm bóng giai nhân giấu vào lòng. Anh đã hoàn toàn làm chủ một ảo ảnh để tự lừa dối mình vì không muốn mất tình yêu buổi ban sơ trong trắng không vướng màu hệ lụy. Bởi trọn kiếp yêu thương, Quang Trần đã thổi hồn yêu vào con đường vắng "Con đường buồn vắng bóng ai đi", hoặc thấy "Vắng em rồi con đường xưa thổn thức" cùng thi nhân. Anh đã thổi hồn yêu vào bến nước "Lời hẹn hò cho bến nước tương tư"(Chiều Mộ Đức). Yêu điên cuồng đến độ muốn "hóa thành ngọn gió. Theo em qua vạn nẻo đường"(Chiều xuân).

Hơn một lần đau khổ vì yêu nên Quang Trần rất sợ không được yêu. Đôi khi trong tình yêu đơn phương anh vận động cả đức tin thánh thiện của Chúa để an ủi mình "Như con chiên ngoan đạo. Tin Đức Mẹ đồng trinh"(Ảo ảnh). Cho nên, đang yêu mãnh liệt, anh laị dự cảm giây phút phải chia xa. Bởi tình yêu vốn đẹp nhưng mong manh như hạt sương long lanh. Lại không dám yêu hết mình:

"Thương em thì thật là thương.

Nhưng tôi cứ sợ con đường rẽ đôi"

                 (Đừng quên em nhé)

Hình ảnh con đường vắng trở đi trở lại trong thơ anh rất nhiều. Có thể nâng lên thành biểu tượng của trái tim thi sĩ cô đơn không? Thiết nghĩ, anh đã nâng niu từng khoảnh khắc yêu thương trong từng con chữ. Ít có bài thơ nào không lắng đọng chữ yêu, chữ thương, chữ nhớ. Một tâm hồn cao thượng không thể nào cô đơn. Nhưng bè bạn yêu thương cũng là cái họa lớn. Vì ta thường thấy Quang Trần tay nâng li rượu đắng mà cô đơn ngậm ngùi. Nhiều lần "Vật vờ trong men rượu. Lính quýnh chốn phong trần"(Ảo ảnh). Nên ghét hay nên thương Quang Trần?...

Không gian yêu trong thơ Quang Trần ngoài con đường còn là cánh đồng, bến cũ, là khoảng trời với dòng sông dập dềnh sóng nước. Bước chân Quang Trần đã đi khắp vạn nẻo đường tổ quốc. Đất nước, quê hương, nơi nào có dấu chân anh đi qua cũng đau đáu một tình yêu thầm lặng. Trái tim yêu không đơn thuần là tình yêu nam nữ, nó còn đong đầy nỗi niềm yêu thương mảnh đất cha ông mình. Yêu thiết tha mây trời, sông nước Tiền giang khi anh đi qua: "Bình minh nghiêng, nước sông Tiền lấp loáng. Anh thả lòng giữa sóng nước miên man". Yêu si mê như tình yêu nam nữ, đến độ anh lại "muốn hóa thành ngọn gió. Thổi dạt dào trên sóng nước phương Nam"(Khoảnh khắc sông Tiền).

Dù có máu giang hồ, thích phiêu bạt, nhưng trái tim Quang Trần vẫn dạt dào một tình yêu với xứ sở miền Trung khốn khó của  mình:

"Cuộc đời ta nặng nợ với quê hương

Với rẫy lúa, nương khoai, bản làng, suối nước"

                                 (Khoảng trời kỉ niệm)

Anh vẫn tha thiết với Ba Tơ anh hùng trong giai điệu cồng chiêng, điệu Ta Lêu của người Hre da diết, với đảo Lý sơn nắng cháy da người:

"Nặng tình chi thế. Lý Sơn

Để ta và biển vui buồn không nguôi"

                                     (Phố đảo)

Yêu Trà Bồng quyến rũ bởi hương quế thơm thơm, hương mật ong ngọt lịm đến độ đã nâng giai điệu Xà ru của dân tộc Kor thành giai điệu trái tim: "Em đã tặng anh giai điệu trái tim mình"

                     (Giai điệu trái tim)

Khoảng trời riêng trong anh còn là con đò, bến nước là:

" Lưng đồi đàn trâu đang gặm cỏ

Dòng sông quê thì thầm vỗ đôi bờ"

                               (Hương quê)

Nguyễn Quang Trần đã chơi trò chơi ngôn ngữ, đem đến cho thơ mình sự đa nghĩa, phức tạp của ngữ nghĩa:

"Khoảnh khắc bình minh, lung linh Cù lao Thới"

(Khoảnh khắc sông Tiền)

hoặc dọc đường gió bụi "Nên trái tim ta rớt dọc đường"

                                                        (Thôn Vạn)

"Ta chôn tình yêu dưới mấy tầng cát trắng

Để rong rêu phủ lấp trái tim mình"

               (Trên bến sông Thương)

Mặt khác, anh còn tung hứng trên nỗi đau tình trường với những ý tưởng mới mẻ làm nao lòng người:

"Câu thơ tình không mặc áo vu qui"

                          (Chiều Mộ Đức)

Hoặc : "Sao em cứ dập đềnh như sóng

Để tình ta trôi vào cõi đa đoan"

"Ừ, thì để cho trái tim rướm máu

Dập đềnh trôi theo con sóng xô bờ"

                                    (Đa đoan)

"Ly cà phê lắng đọng giọt tương tư"

                       (Gửi em một chữ yêu)

Anh quan niệm rất rõ ràng và đơn giản về tình đời, tình người:

"Khổ đau và hạnh phúc

Như sấp ngửa bàn tay"

                   (Ảo ảnh)

Phải giã từ tuổi thơ ra đi trong nhớ thương ngậm ngùi hẳn Quang Trần yêu thương quê hương và người thân biết mấy. Mỗi tên núi, tên sông, tên người đều đong đầy kỉ niệm: Thiên Bút Phê vân, Thiên Ấn Niêm Hà, bình minh Sông Trà gợn sóng, hoàng hôn tri kỷ Tam Thương luôn hiện diện trong thơ anh...

Quả thật :  "Một chữ yêu bao kẻ dại khờ

Và bao kẻ trở thành thi sĩ

Chữ nợ chữ duyên có ngọt ngào ý vị

Khi xuân về phố cũ vắng em"

               (Gửi em một chữ yêu)

Song điều đó chỉ đúng với Quang Trần mà thôi. Bởi nếu yêu mà trở thành thi sĩ như anh thì thế gian này sẽ hóa thành thế giới thi nhân. Hãy để yên cho anh yêu và nhất định thơ ca Nguyễn Quang Trần sẽ  thăng hoa để làm đẹp cho đời và rất có thể sẽ cứu rỗi những trái tim khô cằn, biết quay về với khát vọng yêu thương, bởi theo anh:

"Hạnh phúc tình yêu đâu phải xa xôi"

                 (Gửi lại em)

: "Mỗi gương mặt người một ánh lửa lung linh"

                                       (Đêm Xà ru)

Hòa với giọng thơ trầm buồn là nỗi đau của người con xứ sở anh hùng sớm xa quê, xa người yêu, người thân. Cũng chính vì đi nhiều mà không gian yêu trong thơ anh bất tận mênh mông và phóng khoáng như chính tính cách Quang Trần, cho nên khó mà khám phá hết được. Tuy nhiên, nếu anh quan tâm gọt giũa hơn thì sẽ không còn những bài thơ 5 chữ, 4 chữ tỏ ra quá dễ dãi trong cách gieo vần và chọn tứ. Vì hiển nhiên sẽ khó tạo được độ căng của con chữ chứa đựng những ý tưởng sắc sảo có chất triết lý trên những vần thơ hạn chế số chữ này. Nhiều người rất sợ làm thơ loại này vì nó rất gần với vè. Và một lỗi nhỏ của sự lặp lại của con chữ trong thơ anh tạo cho người đọc có cảm giác nghi ngờ về vốn liếng ngôn ngữ của anh như: miên man, miền kí ức, hư không...Có thể những từ ngữ này phù hợp với tâm trạng anh nên anh đã chiếu cố đến chúng mà tạm quên rằng mình đã sử dụng rồi. Nhưng trách sao được bởi Quang Trần là sinh viên khoa Lịch sử là người làm báo chuyên nghiệp, văn chương vốn chỉ là nợ là duyên của riêng anh:.

...Một cuộc đời và một chữ yêu

Chữ nợ chữ duyên lòng ta đau đáu"

                      (Gửi em một chữ yêu)

Giã từ áo lính, tìm đến giảng đường đạị học. Ra trường làm thầy giáo nhiều nơi tưởng đã yên thân, nào ai biết được bước ngoặt cuộc đời, chuyển sang nghề làm báo để rồi đến với văn chương như một hệ lụy. Quang Trần đã đi và đến tận cùng của cõi thơ, góp nhặt những mảnh vỡ hồn nhiên của đời mình để biến cái ngẫu nhiên thành cái tất nhiên, biến cái phi lí thành hữu lý. Nguyễn Quang Trần không hề vun xén cho riêng mình. Anh hòa mình với cõi người, sống hết mình mà yêu cũng hết mình cái hiện hữu ở trần gian này...

                                                                                       Quảng Ngãi tháng 12-2007


                                                                                 Ths Nguyễn Thị Thủy
                                                            Giáo viên Trường THPT Thu Xà - Quảng Ngãi


Design by JuliettaRose Studio. Powered by Vnweblogs